Nghị định số 82-CP ban hành năm 1963 do Hội đồng Chính phủ ban hành nhằm quy định về việc phân chia tạm thời các ngành trong nền kinh tế quốc dân thành hai khu vực chính là khu vực sản xuất vật chất và khu vực không sản xuất vật chất.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cùng toàn bộ các tổ chức, đơn vị và cơ quan hoạt động trong nền kinh tế quốc dân thời bấy giờ.
Phân chia các ngành kinh tế quốc dân thành hai khu vực lớn
Nghị định quy định việc phân chia tạm thời toàn bộ các hoạt động kinh tế quốc dân thành hai nhóm lĩnh vực rõ rệt:
- Khu vực các ngành sản xuất vật chất: Bao gồm 10 ngành cụ thể đóng vai trò tạo ra của cải vật chất trực tiếp hoặc phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất, bao gồm: ngành công nghiệp; ngành nông nghiệp; ngành lâm nghiệp; ngành xây dựng cơ bản; ngành vận tải hàng hóa; ngành bưu điện và liên lạc phục vụ sản xuất; ngành thu mua; ngành thương nghiệp và ăn uống công cộng; ngành cung cấp vật tư kỹ thuật và tiêu thụ tư liệu sản xuất; cùng các ngành sản xuất vật chất khác.
- Khu vực các ngành không sản xuất vật chất: Bao gồm 7 nhóm ngành phục vụ đời sống, xã hội và quản lý nhà nước, bao gồm: ngành phục vụ công cộng và phục vụ sinh hoạt; ngành vận tải, bưu điện và liên lạc phục vụ đời sống nhân dân và phục vụ các ngành không sản xuất vật chất; ngành y tế, thể dục thể thao, bảo hiểm xã hội; ngành giáo dục, văn hóa, nghệ thuật; ngành khoa học và công tác phục vụ khoa học; ngành tín dụng và cơ quan bảo hiểm Nhà nước; các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị và xã hội.
Trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện của Tổng cục thống kê
Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê giữ vai trò chủ trì trong việc triển khai nghị định này với các nhiệm vụ cụ thể:
- Quy định chi tiết và cụ thể hóa việc phân ngành kinh tế quốc dân dựa trên các nguyên tắc đã được đề ra.
- Hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Ủy ban hành chính các cấp địa phương (khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) thực hiện thống nhất việc phân ngành.
Trách nhiệm của các Bộ, ngành và địa phương trong việc sắp xếp tổ chức
Các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương có trách nhiệm rà soát và phân loại các đơn vị trực thuộc:
- Căn cứ vào tinh thần của Nghị định, chức năng chủ yếu và hoạt động thực tế của từng tổ chức, đơn vị, cơ quan thuộc phạm vi quản lý để sắp xếp vào các ngành kinh tế phù hợp.
- Quá trình sắp xếp, phân loại các tổ chức, đơn vị này bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của Tổng cục thống kê trước khi thực hiện.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 82-CP năm 1963 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1963.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 82-CP | Hà Nội, ngày 03 tháng 06 năm 1963 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ nhu cầu công tác kế hoạch nền kinh tế quốc dân và để thống nhất việc tính toán trong công tác kế hoạch và thống kê, thống nhất việc tính toán giữa các loại hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và hạch toán nghiệp vụ;
Căn cứ trình độ phát triển kinh tế và văn hóa ở miền Bắc nước ta hiện nay;
Theo đề nghị của ông Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 16 tháng 5 năm 1962 và ngày 21 tháng 02 năm 1963,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. – Nay tạm thời chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân thành hai khu vực:
1. Khu vực các ngành sản xuất vật chất;
2. Khu vực các ngành không sản xuất vật chất.
A) Các ngành sản xuất vật chất gồm có:
1. Ngành công nghiệp,
2. Ngành nông nghiệp,
3. Ngành lâm nghiệp,
4. Ngành xây dựng cơ bản,
5. Ngành vận tải hàng hóa,
6. Ngành bưu điện và liên lạc phục vụ sản xuất,
7. Ngành thu mua,
8. Ngành thương nghiệp và ăn uống công cộng,
9. Ngành cung cấp vật tư kỹ thuật và tiêu thụ tư liệu sản xuất,
10. Ngành sản xuất vật chất khác.
B) Các ngành không sản xuất vật chất gồm có:
1. Ngành phục vụ công cộng và phục vụ sinh hoạt,
2. Ngành vận tải, bưu điện và liên lạc phục vụ đời sống nhân dân và phục vụ các ngành không sản xuất vật chất,
3. Ngành y tế, thể dục thể thao, bảo hiểm xã hội,
4. Ngành giáo dục, văn hóa, nghệ thuật,
5. Ngành khoa học và công tác phục vụ khoa học,
6. Ngành tín dụng và cơ quan bảo hiểm Nhà nước;
7. Ngành các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị và xã hội.
Điều 4. – Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1963.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
- 1Thông tư 76-TTg/CN-1966 quy định việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư 51-TTg năm 1963 giải thích Nghị định 82-CP về việc phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Nghị định 37-CP năm 1974 về ban hành bảng phân ngành kinh tế quốc dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
Nghị định 82-CP năm 1963 về việc phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 82-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 03/06/1963
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 19
- Ngày hiệu lực: 01/01/1963
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
