Thông tư 139-TTg được ban hành năm 1959 bởi Phủ Thủ Tướng, quy định về chính sách giá vật liệu xây dựng nhằm thiết lập cơ chế quản lý giá cả thống nhất, phục vụ cho công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế và kiến thiết cơ bản trong giai đoạn bấy giờ.
Phạm vi áp dụng của Thông tư hướng tới việc điều chỉnh hoạt động quản lý, ban hành và thực hiện giá đối với các loại vật liệu xây dựng trên thị trường. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp quốc doanh, các công trường xây dựng, cùng các tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất, cung ứng, mua bán vật liệu xây dựng.
Nội dung cốt lõi của chính sách giá vật liệu xây dựng
Thông tư tập trung vào các nguyên tắc và quy định trọng tâm từ Điều 1 đến Điều 4 nhằm định hình khung pháp lý cho việc quản lý giá cả:
- Nguyên tắc xây dựng giá vật liệu: Xác định các căn cứ khoa học và thực tiễn để tính toán giá thành sản xuất, chi phí lưu thông và phân phối đối với các loại vật liệu xây dựng chủ chốt, đảm bảo mức giá hợp lý, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước và hỗ trợ các công trình xây dựng công cộng.
- Thẩm quyền quyết định và quản lý giá: Phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương trong việc phê duyệt, điều chỉnh và áp dụng biểu giá vật liệu xây dựng thống nhất hoặc khung giá giới hạn cho từng khu vực.
- Biện pháp bình ổn và kiểm soát thị trường: Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm ngăn chặn tình trạng tự ý nâng giá, đầu cơ tích trữ vật liệu xây dựng, đảm bảo nguồn cung ổn định cho các công trình trọng điểm của Nhà nước.
- Trách nhiệm tuân thủ của các đơn vị: Quy định nghĩa vụ của các chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng và các đơn vị cung ứng trong việc chấp hành nghiêm chỉnh các mức giá đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 139-TTg năm 1959 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của các ngành, các địa phương trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các bộ, ngành và Ủy ban hành chính các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện nghiêm túc chính sách giá vật liệu xây dựng theo quy định tại văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 139-TTg | Hà Nội, ngày 06 tháng 04 năm 1959 |
Hiện nay, việc xây dựng cơ bản càng ngày càng mở mang, nên nhu cầu về vật liệu xây dựng ngày càng tăng trong khi đó thì giá cả của một số vật liệu chưa hợp lý, các địa phương áp dụng không thống nhất, do đó gây khó khăn cho cơ quan quản lý giá cả và lao động.
Để bảo đảm đủ vật liệu cho nhu cầu xây dựng, hướng cố gắng chính là phải đẩy mạnh sản xuất các vật liệu ở những vùng thuận lợi với giá vừa phải đối với người sản xuất cũng như đối với Nhà nước, để khỏi ảnh hưởng đến vốn đầu tư của Nhà nước vào xây dựng cơ bản.
Theo đề nghị của Hội đồng vật giá, Thủ tướng phủ quy định một số điểm sau đây nhằm bước đầu rút bớt giá của một số vật liệu ở một số địa phương hiện nay chưa được hợp lý, đưa việc mua vật liệu xây dựng của các cơ quan vào nền nếp, đồng thời khuyến khích đà sản xuất vật liệu hiện nay đương được mở rộng.
Giá bán ra các vật liệu xây dựng cho các cơ quan Nhà nước là giá bảo đảm đủ giá thành thương nghiệp (kể cả tích lũy định mức cho Mậu dịch quốc doanh).
a) Đá hộc: giá mỗi két khối đá hộc là 3đ đến 3đ5 áp dụng chung cho tất cả các nơi khai thác bằng mìn.
b) Sỏi: một mét khối sỏi là 2đ3 đến 3đ ở Đoan hùng (Phú thọ), 6 đến 6đ5 ở Thái nguyên. Giá sỏi ở Sơn tây và Hồng quảng sẽ do Bộ Nội thương cùng Ủy ban Hành chính Sơn tây và Hồng quảng dựa vào tình hình thực tế ở hai nơi đó mà quy định.
c) Cát vàng: giá một mét khối cát vàng là 5đ ở Sơn tây, 2đ1 đến 2đ5 ở Thái nguyên, 4đ5 đến 5đ ở Ninh bình. Bộ Nội thương sẽ cùng Ủy ban Hành chính Hải phòng căn cứ vào giá trên đây mà quy định giá mua ở Hải phòng cho thích hợp.
d) Cát đen: giá một mét khối cát đen là 1đ6 đến 1đ8 ở Sơn tây và Nam định, 1đ7 ở Thái nguyên, 1đ8 đến 2 đ ở Hải dương. Bộ Nội thương, Ủy ban Hành chính Hà nam, Hải phòng và Hà nội căn cứ vào giá trên mà quy định giá mua ở Hà nam, Hải phòng và Hà nội cho thích hợp.
đ) Vôi: giá một tấn vôi là 35đ đến 40đ ở Hà nam, 35đ đến 38đ ở Ninh bình, 41đ ở Hà đông, 40đ đến 42đ ở Sơn tây, 40đ ở Thái nguyên, 42đ đến 45đ ở Hải phòng. Bộ Nội thương, Ủy ban Hành chính Nam định và Hồng quảng sẽ căn cứ vào giá trên mà quy định giá mua ở Nam định và Hồng quảng cho thích hợp.
e) Gạch: giá bình quân một viên gạch trong toàn quốc là 0đ025. Giá cụ thể của một viên gạch tại các địa phương sẽ do Bộ Nội thương phối hợp cùng Ủy ban Hành chính các tỉnh mà quy định.
g) Tre cọc: giá bình quân một thước tre cọc là 0đ28 ở Hà đông và 0đ24 ở Sơn tây. Bộ Nội thương sẽ cùng Ủy ban Hành chính các tỉnh quy định giá cụ thể cho các tỉnh khác.
| KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Thông tư 139-TTg năm 1959 quy định chính sách giá vật liệu xây dựng do Phủ Thủ Tướng ban hành
- Số hiệu: 139-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 06/04/1959
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 21/04/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
