Giới thiệu chung về Chỉ thị 353-TTg năm 1957
Chỉ thị 353-TTg ban hành năm 1957 bởi Thủ tướng Chính phủ là một văn bản pháp lý quan trọng trong thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế tại miền Bắc Việt Nam. Văn bản này thiết lập cơ chế phân công, phân cấp thẩm quyền quyết định và quản lý giá cả giữa các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương, nhằm ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát và phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế.
1. Nguyên tắc phân công thẩm quyền quyết định giá
Chỉ thị xác định rõ nguyên tắc tập trung thống nhất đi đôi với phân cấp quản lý hợp lý giữa trung ương và địa phương:
- Thẩm quyền của Trung ương: Chính phủ và các Bộ quản lý ngành ở trung ương nắm quyền quyết định giá đối với các mặt hàng chiến lược, nguyên nhiên vật liệu quan trọng, giá bán buôn của các doanh nghiệp nhà nước lớn và giá thu mua các loại nông sản chủ lực.
- Thẩm quyền của Địa phương: Ủy ban hành chính các cấp (khu, tỉnh, thành phố) được trao quyền quyết định giá bán lẻ đối với các mặt hàng tiêu dùng nội địa, phí dịch vụ công cộng tại địa bàn và điều chỉnh mức giá cụ thể phù hợp với tình hình thực tế địa phương dựa trên khung giá hướng dẫn của trung ương.
2. Các chính sách và quy định cốt lõi (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Nội dung trọng tâm của các điều khoản đầu trong Chỉ thị tập trung vào việc phân định chi tiết danh mục hàng hóa và thẩm quyền định giá cụ thể:
- Quy định về giá thu mua nông sản và lâm sản: Xác định thẩm quyền của các Bộ chuyên ngành trong việc áp đặt giá sàn và giá trần thu mua nhằm bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, đồng thời đảm bảo nguồn cung quản lý của Nhà nước.
- Quy định về giá bán lẻ hàng tiêu dùng thiết yếu: Phân cấp cho các địa phương tự chủ quyết định giá bán lẻ một số mặt hàng nhu yếu phẩm để kịp thời ứng phó với biến động của thị trường tự do tại từng khu vực.
- Cơ chế phối hợp liên ngành: Quy định trách nhiệm phối hợp giữa các Bộ ngành liên quan trong việc xây dựng phương án giá trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với các mặt hàng đặc biệt quan trọng.
3. Mục tiêu và ý nghĩa của Chỉ thị
- Ổn định thị trường và tiền tệ: Việc kiểm soát giá cả chặt chẽ giúp hạn chế tình trạng đầu cơ tích trữ, lũng đoạn giá của thương nhân tự do trong giai đoạn quá độ kinh tế.
- Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước: Khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thông qua công cụ giá cả.
- Tạo tiền đề cho việc thực hiện kế hoạch hóa: Việc phân công rõ ràng giúp bộ máy hành chính vận hành thông suốt, giảm thiểu sự chồng chéo thẩm quyền giữa các cấp chính quyền.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT |
| Số: 353-TTg | Hà Nội, ngày 03 tháng 08 năm 1957 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC PHÂN CÔNG QUYẾT ĐỊNH GIÁ
Công tác quyết định giá có quan hệ mật thiết đến công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế quốc dân, đến đời sống nhân dân, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương. Để đảm bảo việc định giá thích hợp với tình hình kinh tế hiện nay, cần quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn giữa các ngành, các cấp trong việc quyết định giá hàng hóa mua vào, bán ra trên thị trường.
Nói chung, Bộ thương nghiệp là cơ quan thay mặt Nhà nước quản lý vật giá trong tòan quốc, nhưng trong việc quyết định giá mua vào, bán ra thì phân công theo nguyên tac91:
- Giá các loại hàng rất trọng yếu đối với nền kinh tế quốc dân phải do hội đồng Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ quyết định. Bộ Thương nghịêp công bố và chỉ đạo việc thi hành.
- Giá các loại hàng cần thiết do Bộ thương nghiệp quyết định.
- Giá các loại sản phẩm sản xuất và tiêu thụ chủ yếu trong mỗi địa phương do Ủy ban hành chính thành phố, tỉnh quyết định.
1) Những loại hàng thuộc phạm vi quyết định của Hội đồng Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ:
a) Giá thu mua các loại hàng: thóc, ngô, đỗ tương, lạc nhân, đường, muối, thịt lợn sống, bông xơ, chè, thuốc là, thuốc lào, đay, cối, gạch, ngói, gỗ cây ở những nơi sản xuất chính.
b) Giá bán lẻ các loại hàng: gạo tẻ, muối, thịt lợn, vải điềm bâu, giấy, viết, xăng, dầu hỏa, át-pi-rin, pa-luy-đơ-rin, pê-ni-xi-lin, xuyn-pha-đia-din, than mỏ, phối phát, xi măng và một số kim khí, hóa chất.
Ngoài ra se còn tùy theo sự cần thiết mà mở rộng thêm mặt hàng thuộc phạm vi quyết định của Hội đồng Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ.
2) Những loại hàng thuộc phạm vi quyết định của Bộ thương nghiệp:
a) Bộ Thương nghiệp căn cứ các giá tiêu chuẩn ở thị trường chính do Hội đồng Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ quyết định mà định giá các loại hàng khác theo chênh lậch phẩm chất từng thị trường chính khác.
b) Bộ Thương nghiệp đã định giá một số hàng quan trọng khác ở các thị trường chính do Bộ trực tiếp chỉ đạo.
3) Ủy ban hành chánh thành phố, tỉnh:
a) Căn cứ vào các chỉ đạo của Bộ Thương nghiệp ở thị trường chính trong tỉnh mà chỉ đạo giá ở các thị trường phụ.
b) Quyết định giá các loại hàng phụ sản xuất và tiêu thụ chủ yếu trong địa phương mình theo sự quy định của Bộ Thương nghiệp.
III.- LỀ LỐI LÀM VIỆC
1) Đối với loại thứ nhất: Bộ Thương nghiệp có nhiệm vụ phối hợp cùng các Bộ có liên quan xây dựng đề án, đưa ra Hội đồng vật giá xét trước khi trình Hội đồng Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ quyết định.
2) Đối với loại thứ hai: Bộ Thương nghiệp sẽ tùy theo tính chất từng loại hàng mà tranh thủ ý kiến các Bộ, các ngành, các địa phương có liên quan, trước khi quyết định và báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Đối với những loại hàng quan trọng có liên quan đến nhiều ngành, trước khi quýêt định, Bộ Thương nghiệp cần tranh thủ ý kiến của Hội đồng vật giá. Đối với các loại hàng do Bộ Thương nghiệp ủy nhiệm các Tổng công ty quyết định thì các Tổng công ty cần báo cáo đề án về giá lên Bộ thông qua trước khi thi hành.
3) Đối với loại thứ ba:Sở, Ty Công Thương và các Công ty Mậu dịch địa phương phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng đề án về giá, trình Ủy ban Hành chính thành phố, tỉnh quyết định và báo cáo lên Bộ Thương nghiệp.
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Chỉ thị 353-TTg năm 1957 về phân công quyết định giá do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 353-TTg
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 03/08/1957
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 33
- Ngày hiệu lực: 18/08/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
