Sắc lệnh số 59 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành ngày 15 tháng 11 năm 1945 nhằm ấn định thể lệ về việc thị thực (tiếp ký) các sắc lệnh và giấy tờ do Chủ tịch nước ban hành, thiết lập nguyên tắc phối hợp và phân định trách nhiệm của các Bộ trưởng trong Chính phủ.
Phạm vi áp dụng của Sắc lệnh bao gồm toàn bộ các sắc lệnh, quyết định và văn bản hành chính chính thức do Chủ tịch nước ký ban hành. Đối tượng áp dụng trực tiếp là Chủ tịch Chính phủ lâm thời, các Bộ trưởng trong Nội các và các cơ quan hành chính nhà nước chịu trách nhiệm soạn thảo, trình ký và lưu trữ văn bản pháp quy.
Nguyên tắc tiếp ký bắt buộc đối với văn bản của Chủ tịch nước
- Mọi sắc lệnh và các giấy tờ hành chính khác do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành bắt buộc phải có chữ ký thị thực (tiếp ký) của một hoặc nhiều Bộ trưởng liên quan trực tiếp đến lĩnh vực đó mới có đầy đủ giá trị pháp lý để thi hành.
- Quy định này nhằm bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ trong hoạt động quản lý nhà nước, tránh việc ban hành văn bản chồng chéo và tăng cường sự đồng thuận trong Nội các.
Trách nhiệm pháp lý và chính trị của Bộ trưởng ký thị thực
- Bộ trưởng khi ký thị thực vào sắc lệnh phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật và trước Chính phủ về nội dung, tính khả thi cũng như các hệ quả pháp lý của văn bản thuộc phạm vi bộ mình phụ trách.
- Việc tiếp ký không chỉ là một thủ tục hành chính thông thường mà là sự xác nhận trách nhiệm chuyên môn sâu sắc của người đứng đầu bộ ngành đối với quyết định của Chủ tịch nước.
Quy trình phối hợp liên bộ trong việc thị thực văn bản
- Đối với các sắc lệnh có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, văn bản phải được gửi lấy ý kiến và có chữ ký tiếp ký đồng thời của các Bộ trưởng có liên quan.
- Quy định này thúc đẩy cơ chế phối hợp liên ngành, đảm bảo các chính sách ban hành đạt được sự đồng bộ và không gây xung đột lợi ích giữa các lĩnh vực quản lý.
Trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện
- Bộ trưởng Bộ Nội vụ và các Bộ trưởng các Bộ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Sắc lệnh này.
- Các cơ quan văn phòng có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chặt chẽ quy trình ký duyệt, bảo đảm mọi văn bản trước khi công bố đều tuân thủ đúng thể lệ thị thực đã đề ra.
Sắc lệnh số 59 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (ngày 15 tháng 11 năm 1945), đặt nền móng quan trọng cho việc xây dựng thể chế hành chính chính quy, hiện đại và bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ của chính quyền cách mạng Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SẮC LỆNH
SỐ 59 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VỀ VIỆC ẤN ĐỊNH THỂ LỆ VỀ VIỆC THỊ THỰC CÁC GIẤY TỜ
CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu theo lời đề nghị của Tài chính Bộ trưởng;
Sau khi Hội đồng Chính phủ đồng ý,
Ở các thành phố, quyền thị thực trước do Trưởng phố hay Hộ phố thi hành, nay cũng thuộc về Uỷ ban Nhân dân hàng phố.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân sẽ phụ trách việc thị thực này, và phải đề cử một hay là hai Uỷ viên để thay mình khi vắng mặt, hoặc khi chính mình là người đương sự có giấy cần đem thị thực, hoặc khi người đương sự đối với mình có thân thuộc về trực hệ như cha mẹ, ông bà, vân vân, hay bàng hệ bày vai, chú bác, cô dì, anh em ruột và anh em thúc bá, hay là đối với mình là bố mẹ nuôi hay con nuôi.
Riêng ở các thành phố, chữ thị thực của Uỷ ban các phố phải có thêm Uỷ ban nhân dân thị xã chứng nhận. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã sẽ phụ trách việc chứng nhận này, hoặc cử một uỷ viên phụ trách thay mình.
Tuy nhiên, Uỷ ban thị thực phải là Uỷ ban ở trú quán một bên đương sự lập ước, và việc bất động sản phải là Uỷ ban ở nơi sở tại bất động sản. Nếu có nhiều bất động sản ở nhiều nơi khác nhau, thì giấy tờ làm ra về những bất động sản ấy phải do Uỷ ban mỗi nơi thị thực.
A- Thị thực các khế ước chuyển dịch bất động sản :
Từ 1đ00 đến 1.000đ00 : 1%
- 1.000.01 - 2.000.00 : 0,75%
- 2.000.01 - 4.000.00 : 0,50%
- 4.000.01 - 10.000.00 : 0,25%
- 10.000.01 trở lên : 0,10%
Tiền lệ sẽ tính theo giá bất động sản biên trong khế ước. Nếu là khế ước đổi bất động sản lẵn cho nhau, thì sẽ tính tiền lệ theo giá của bất động sản to nhất.
B- Thị thực các khế ước khác :
Nhất luật lấy một tiền tệ là 1 đồng bạc mỗi khế ước dù khế ước làm thành bao nhiêu bản cũng vậy.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1Nghị định 52-CP năm 1960 về việc miễn thủ tục cấp thị thực hộ chiếu cho công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa có hộ chiếu phổ thông đi công vụ do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
- 2Thông tư 114-PI năm 1945 về việc thị thực các khế ước do Uỷ ban nhân dân Bắc bộ ban hành
- 3Thông tư 34-NV/DC năm 1958 về việc cấp phát và thị thực những giấy tờ cho học sinh đi học, đi thi do Bộ Nội vụ ban hành
- 1Nghị định 52-CP năm 1960 về việc miễn thủ tục cấp thị thực hộ chiếu cho công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa có hộ chiếu phổ thông đi công vụ do Hội Đồng Chính Phủ ban hành.
- 2Thông tư 114-PI năm 1945 về việc thị thực các khế ước do Uỷ ban nhân dân Bắc bộ ban hành
- 3Thông tư 34-NV/DC năm 1958 về việc cấp phát và thị thực những giấy tờ cho học sinh đi học, đi thi do Bộ Nội vụ ban hành
Sắc lệnh số 59 về việc ấn định thể lệ về việc thị thực các giấy tờ do Chủ tịch nước ban hành
- Số hiệu: 59
- Loại văn bản: Sắc lệnh
- Ngày ban hành: 15/11/1945
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 10
- Ngày hiệu lực: 28/11/1945
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
