Thông tư 114-PI được ban hành năm 1945 bởi Uỷ ban nhân dân Bắc bộ, tập trung vào việc quy định thủ tục thị thực các khế ước nhằm thiết lập trật tự pháp lý và quản lý các giao dịch dân sự, thương mại trong giai đoạn đầu của chính quyền cách mạng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của văn bản
- Phạm vi áp dụng: Quy định các thủ tục, trình tự liên quan đến việc chứng thực, thị thực các loại khế ước và hợp đồng giao dịch phát sinh trên địa bàn Bắc bộ.
- Đối tượng áp dụng: Các cơ quan hành chính, Uỷ ban nhân dân các cấp tại Bắc bộ có thẩm quyền chứng thực và các cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch cần thị thực khế ước.
Các nội dung cốt lõi về việc thị thực khế ước
- Xác lập thẩm quyền chứng thực: Giao quyền cho Uỷ ban nhân dân các cấp tại Bắc bộ thực hiện việc kiểm tra tính pháp lý, chứng kiến và đóng dấu thị thực vào các bản khế ước giữa các bên.
- Mục đích của việc thị thực: Đảm bảo tính minh bạch, công nhận giá trị pháp lý của các giao dịch dân sự, ngăn ngừa tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân dưới chế độ mới.
- Yêu cầu đối với khế ước: Các bên tham gia ký kết khế ước phải tự nguyện, nội dung khế ước không được trái với các chủ trương, quy định của chính quyền cách mạng lâm thời.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 114-PI có hiệu lực áp dụng đối với toàn bộ khu vực Bắc bộ kể từ thời điểm ban hành năm 1945, đặt nền móng cho hoạt động công chứng, chứng thực của chính quyền nhân dân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN HÀNH CHÍNH BẮC BỘ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 114-PI | Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 1945 |
THÔNG TƯ
VỀ VIỆC THỊ THỰC CÁC KHẾ ƯỚC
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Bắc bộ gửi các ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải phòng và khu ngoại thành Hà Nội.
Theo sắc lệnh số 59 ngày 15 tháng 11 năm 1945 (Công báo số 10 ngày 24 tháng 11 năm 1945) quy định việc thị thực các khế ước thì cách thức thị thực vẫn như cũ nhưng từ nay quyền thị thực các khế ước sẽ giao cho Ủy ban nhân dân các làng và Ủy ban nhân dân hàng phố. Riêng ở thành phố, chữ thị thực của Ủy ban nhân dân các phố phải có thêm Ủy ban nhân dân thị xã chứng nhận.
Sắc lệnh có định rõ số tiền lệ về việc thị thực các khế ước xung vào công quỹ làng hay thành phố.
Trong ngân sách, Ủy ban nhân dân các làng phải lập ra một mục riêng để thu những tiền lệ ấy. Cách thức thu nạp cũng theo như những khoản thu khác (dùng số răng cưa, trao biên lai cho người nộp tiền).
Ở thành phố, tiền lệ sẽ do Ủy ban nhân dân thị xã thu như cũ bằng cách dán lên trên khế ước một số tem mầu trên có in tên thị xã. Tiền tem sẽ do ông Phó Chủ tịch thu nhận để nộp tại Ngân khố thành phố, kèm theo giấy nộp tiền do ông Chủ tịch ký.
Yêu cầu các ông nên nhắc những nhân viên phụ trách việc thị thực phải cẩn thận vì nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thị thực không đúng, công quỹ của làng hay là của thành phố phải bồi thường.
| Nguyễn Xiến (Đã ký) |
Thông tư 114-PI năm 1945 về việc thị thực các khế ước do Uỷ ban nhân dân Bắc bộ ban hành
- Số hiệu: 114-PI
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 29/11/1945
- Nơi ban hành: Uỷ ban hành chính Bắc Bộ
- Người ký: Nguyễn Xiển
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 14/12/1945
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
