Sắc lệnh số 157/SL do Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ban hành quy định về việc tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng nhằm thiết lập hệ thống xét xử kịp thời tại các địa bàn đặc thù trong thời kỳ kháng chiến.
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan tư pháp, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu, các cán bộ tư pháp, thẩm phán, hội thẩm nhân dân và các đối tượng liên quan hoạt động trong phạm vi quản hạt của Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng.
- Quy định về việc thành lập và thẩm quyền địa hạt- Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng được thành lập tại các khu vực bị địch tạm chiếm nhằm thực hiện nhiệm vụ xét xử kịp thời.
- Phạm vi quản hạt của toà án này rất linh hoạt, có thể bao gồm toàn bộ một tỉnh, một số huyện trong cùng một tỉnh, hoặc một số xã thuộc một hoặc nhiều huyện khác nhau.
- Thẩm quyền thành lập thuộc về Bộ trưởng Bộ Tư pháp thông qua việc ban hành nghị định, dựa trên đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu và ý kiến của Giám đốc Tư pháp liên khu.
- Trong trường hợp khẩn thiết, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu được quyền quyết định tạm thời thành lập toà án và phải báo cáo ngay cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp để phê duyệt.
- Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng sở hữu thẩm quyền đặc biệt, bao gồm thẩm quyền của cả ba cấp và loại toà án: Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân tỉnh và Toà án quân sự.
- Tất cả các bản án do toà án này tuyên đều có hiệu lực thi hành ngay lập tức để đảm bảo tính kịp thời trong điều kiện chiến tranh.
- Về mặt nghiệp vụ hình sự và dân sự (hộ): Toà án này chịu sự điều khiển trực tiếp của Toà án nhân dân tỉnh. Trường hợp quản hạt của toà án là quy mô cấp tỉnh, quyền điều khiển sẽ thuộc về Toà án nhân dân liên khu hoặc Toà phúc thẩm.
- Về mặt xét xử các vụ việc thuộc thẩm quyền quân sự: Toà án chịu sự điều khiển của Toà án quân sự liên khu và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu (hoặc Toà án nhân dân liên khu nếu cơ quan này đã được thành lập).
- Hội đồng xét xử của Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng bao gồm: một Chánh án, hai Hội thẩm nhân dân và một Công tố uỷ viên.
- Để giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân sự trong vùng tạm chiếm, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền chỉ định những người ngoài ngạch thẩm phán giữ chức vụ Chánh án hoặc Công tố uỷ viên, dựa trên đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính và Giám đốc Tư pháp liên khu.
- Các Hội thẩm nhân dân do Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ định theo đề xuất của Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu sau khi tham khảo ý kiến Giám đốc Tư pháp liên khu. Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng có thể uỷ quyền trực tiếp việc chỉ định này cho Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu thực hiện.
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết về thủ tục, cách thức xét xử của Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng cũng như các hướng dẫn thi hành sắc lệnh này.
- Các chức danh chịu trách nhiệm thi hành sắc lệnh bao gồm: Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 157-SL NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 1950
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu Sắc lệnh số 13 ngày 21 tháng 1 năm 1946 và các sắc lệnh tiếp theo tổ chức các toà án;
Chiểu Sắc lệnh số 21 ngày 14 tháng 2 năm 1946 và các sắc lệnh tiếp theo tổ chức các toà án quân sự;
Chiểu Sắc lệnh số 156-SL ngày 17 tháng 11 năm 1950 tổ chức các toà án nhân dân liên khu;
Chiểu đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;
Theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, sau khi Ban thường trực Quốc hội thoả thuận;
RA SẮC LỆNH:
Điều 1: Trong những vùng tạm bị địch chiếm có thể thiết lập một toà án gọi là toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm.
Quản hạt toà án này có thể là một tỉnh, một số huyện trong một tỉnh, hay một số xã trong một huyện hay trong nhiều huyện.
Điều 2: Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm do nghị định Bộ trưởng Bộ Tư pháp thiết lập, theo đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu sau khi hỏi giám đốc Tư pháp.
Nghị định sẽ định rõ quản hạt của toà án được thành lập.
Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu sau khi hỏi ý kiến giám đốc Tư pháp liên khu có thể quyết định tạm thành lập toà án đó, nhưng phải báo cáo ngay lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Điều 3: Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm có thẩm quyền của toà án nhân dân huyện, toà án nhân dân tỉnh và toà án quân sự.
Các bản án đều được thi hành ngay.
Về việc hình và hộ, toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm thuộc quyền điều khiển của toà án nhân dân tỉnh. Nếu quản hạt của toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm là một tỉnh thì trực thuộc quyền điều khiển của toà án nhân dân liên khu hoặc toà phúc thẩm.
Về việc xét xử các việc thuộc thẩm quyền toà án quân sự, toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm thuộc quyền điều khiển của toà án quân sự liên khu và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu. Nếu có toà án nhân dân liên khu thì thuộc quyền điều khiển của toà án nhân dân liên khu.
Điều 4: Thành phần toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm ấn định như sau:
- Một chánh án và hai hội thẩm nhân dân;
- Một công tố uỷ viên.
Trong trường hợp không có thẩm phán để ngồi xử hoặc giữ chức công tố uỷ viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ định các người ngoài ngạch thẩm phán để giữ các chức đó, theo đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính và Giám đốc Tư pháp liên khu.
Các hội thẩm nhân dân cũng do Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ định theo đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu, sau khi hỏi ý kiến giám đốc Tư pháp liên khu.
Bộ trưởng Bộ Bộ Tư pháp có thể uỷ quyền cho Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu.
Điều 5: Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ quy định cách thức xét xử của toà án vùng tạm bị chiếm cùng chi tiết thi hành sắc lệnh này.
Điều 6: Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chiểu sắc lệnh thi hành.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1Thông tư 141-HCTP năm 1957 về tổ chức và phân công nội bộ của tòa án do Bộ Tư pháp ban hành
- 2Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- 3Sắc lệnh số 21 về việc tổ chức các Toà án quân sự do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- 4Sắc lệnh số 156/SL về việc thiết lập Toà án nhân dân Liên khu tại mỗi liên khu do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
Sắc lệnh số 157/SL về việc tổ chức toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng do Chủ tịch nước ban hành
- Số hiệu: 157/SL
- Loại văn bản: Sắc lệnh
- Ngày ban hành: 17/11/1950
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 02/12/1950
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
