Hệ thống pháp luật

UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
---------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 33/2009/QĐ-UBND

Hải Dương, ngày 12 tháng 11 năm 2009

 

QUYẾT ĐỊNH

V/V BAN HÀNH QUY ĐỊNH THỰC HIỆN NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, LỄ HỘI VÀ BÀI TRỪ MÊ TÍN DỊ ĐOAN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Quyết định số 308/2005/QĐ - TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1282/QĐ - UB ngày 27 tháng 04 năm 1998 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương về lành mạnh hóa việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan.

Điều 3. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giỏm đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ trưởng các Sở, ngành, đơn vị liên quan và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH




Nguyễn Thị Minh

 

QUY ĐỊNH

VỀ THỰC HIỆN NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, LỄ HỘI VÀ BÀI TRỪ MÊ TÍN DỊ ĐOAN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số 33 /2009/QĐ – UBND ngày 12 tháng 11 năm 2009 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hải Dương)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định này quy định thực hiện nếp sống văn minh trong tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Cán bộ, công chức, viên chức, công nhân lao động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân; tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (quân đội nhân dân và công an nhân dân); các gia đình, cộng đồng dân cư, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Chương II

QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Mục 1. TỔ CHỨC VIỆC CƯỚI

Điều 3. Lễ đăng ký và trao giấy chứng nhận kết hôn

1. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm bố trí hội trường trang trọng, lịch sự phục vụ việc đăng ký, trao, nhận giấy đăng ký kết hôn. Trong buổi trao giấy chứng nhận kết hôn đôi nam, nữ có thể mêi đại diện gia đình và bạn bè thân thích cùng tham dự, với số lượng phù hợp.

2. Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cán bộ tư pháp chủ trì việc đăng ký, trao giấy chứng nhận kết hôn cho đôi nam, nữ. Việc trao, nhận giấy chứng nhận kết hôn phải được tiến hành một cách nghiêm túc, trang trọng, tạo được không khí hân hoan, ấn tượng đẹp trong ngày vui hạnh phúc của đôi vợ chồng.

Điều 4. Tổ chức việc cưới

Đảm bảo trang trọng, lành mạnh, tiết kiệm và phù hợp với điều kiện cụ thể của cá nhân, gia đình và phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư nơi sinh sống.

Điều 5. Lễ cưới

1. Các thủ tục có tính phong tục, tập quán như chạm ngõ; lễ hỏi; xin dâu cần được tổ chức đơn giản, gọn nhẹ.

2. Trang trí lễ cưới và trang phục cô dâu, chú rể phải lịch sự, phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc.

3. Trường hợp tổ chức ăn uống cần tiết kiệm và phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

4. Âm nhạc trong lễ cưới có nội dung lành mạnh. Không được mở quá to, không mở quá 22 giờ đêm và trước 5 giờ sáng.

5. Địa điểm tổ chức cưới: Tại nhà riêng, nhà văn hoá hoặc những nơi có đủ điều kiện cần thiết cho tổ chức một đám cưới

6. Không được lợi dụng danh nghĩa, địa vị xã hội để mêi khách dự đám cưới tràn lan, phô trương lãng phí dưới mọi hình thức.

7. Cấm tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức.

8. Không làm cản trở giao thông và các hoạt động công cộng.

Điều 6. Khuyến khích thực hiện các hình thức sau trong việc cưới.

1. Báo hỷ.

2. Tổ chức tiệc trà. Không hút thuốc lá.

3. Đặt hoa ở đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ hoặc trồng cây lưu niệm ở vườn cây tại địa phương và thắp hương nhà thờ họ (nếu có) trong ngày cưới.

4. Các cơ quan, tổ chức có đôi nam, nữ kết hôn thì chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong cơ quan tổ chức lễ cưới cho đôi nam nữ.

5. Trường hợp hàng xóm gần kề có việc tang, gia đình có việc cưới cần có hình thức tổ chức thích hợp đảm bảo thuần phong, mỹ tục và sự đoàn kết láng giềng thân thiện, theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Đối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Thực hiện theo quy định của Chính phủ tại nghị định số 69/2006/NĐ - CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ - CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài.

Mục 2. TỔ CHỨC VIỆC TANG

Điều 8. Tổ chức việc tang

1. Đảm bảo chu đáo, trang nghiêm, gọn nhẹ, tiết kiệm.

2. Người qua đời phải được nhập quan trong vòng 10 tiếng đồng hồ; được chôn cất hoặc hoả táng trong vòng 48 tiếng đồng hồ kể từ khi qua đời. Trường hợp đặc biệt cần để lâu hơn, thi hài phải được lưu giữ tại phòng lạnh của bệnh viện hoặc nhà tang lễ.

3. Trường hợp qua đời vì dịch bệnh và các bệnh truyền nhiễm, việc khâm liệm tử thi phải theo hướng dẫn của cơ quan Y tế, sau đó phải mai táng ngay, không được để quá 24 tiếng đồng hồ. Việc quàn, chôn cất, hoả táng, điện táng, bốc mộ và di chuyển thi hài, hài cốt phải đảm bảo các quy định về vệ sinh môi trường.

4. Xoá bỏ tệ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu như: Lăn đường, khóc mướn, bắt tà, trừ ma, gọi hồn...

5. Cấm tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức.

6. Các lễ cúng theo phong tục tập quán tổ chức thật gọn nhẹ, tiết kiệm.

7. Không thổi kèn sau 22 giờ đêm và trước 5 giờ sáng.

Điều 9. Ban tổ chức lễ tang

1. Đối với người qua đời là cán bộ công chức nghỉ hưu hoặc nhân dân: Khi nhận được thông tin, đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội ở địa phương cùng với gia đình thành lập Ban lễ tang gồm: Trưởng thôn, khu dân cư làm trưởng ban, các thành viên là đại diện các đoàn thể ở thôn, khu dân cư và gia đình để phối hợp và giúp đỡ tang chủ tổ chức chu đáo việc tang.

2. Lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo quy định tại Quy chế tổ chức lễ tang đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước khi từ trần ban hành kèm theo Nghị định số 62/2001/NĐ - CP ngày 12 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ và quy địmh này.

3. Lễ tang đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng đương chức và nghỉ hưu thực hiện theo Thông tin số 114/2005/TTLT/BQP - BNV ngày 01 tháng 8 năm 2005 của Bộ Quốc Phòng và Bội Nội Vụ.

4. Trường hợp người qua đời là lãnh đạo cao cấp thì Ban tang lễ được thành lập theo quy định của Nhà nước.

5. Nếu người qua đời không có người thân, chính quyền địa phương (xã, phường, thị trấn) cùng các đoàn thể chịu trách nhiệm tổ chức việc tang.

Điều 10. Tang phục

1. Tang phục nên giản dị, cần cắt may gọn gàng, có thể dùng tang phục truyền thống hoặc tang phục màu đen.

2. Người đến viếng hoặc đưa tang, trang phục gọn gàng, lịch sự phù hợp với việc tang lễ.

Điều 11. Lễ viếng và đưa tang

1. Tổ chức phúng viếng theo điều hành của Ban tổ chức lễ tang.

2. Lễ viếng phải đảm bảo văn minh.

3. Hạn chế viếng bằng vòng hoa, bức trướng có tính phô trương.

4. Không mêi thuốc lá trong đám tang.

5. Người đến viếng hoặc đưa tang cần có thái độ đúng mực, nghiêm túc thể hiện sự chia sẻ nỗi buồn đối với tang quyến. Hạn chế hình thức phát lời người đến viếng lên loa.

6. Hạn chế việc đưa xe dự lễ viếng đến nơi an táng để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, tiết kiệm thời gian và công quỹ.

7. Hạn chế việc rắc vàng mã, tiền âm phủ trên đường; cấm rắc tiền thật (dù với mệnh giá nhỏ) trên đường.

Điều 12. Việc chôn cất xây mộ và quy hoạch nghĩa trang

1. Việc chôn cất xây mộ phải theo quy định số 4315/2006/QĐ - UBND ngày 14 tháng 12 năm 2006 về việc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

2. Khuyến khích thực hiện hoả táng, điện táng hoặc chôn cất một lần.

Mục 3. LỄ HỘI

Điều 13. Các lễ hội phải đảm bảo những mục đích và yêu cầu sau

1. Tưởng nhớ công đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, các bậc tiền bối đã có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Bảo tồn, quảng bá phát huy ý nghĩa truyền thống tốt đẹp của lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng.

3. Tìm hiểu, giới thiệu di tích lịch sử, các công trình văn hoá, nghệ thuật; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.

4. Tổ chức vui chơi, giải trí lành mạnh, giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ.

5. Thực hiện đúng Quy chế lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ - BVHTT ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) và Quy hoạch lễ hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 - 2015 và định hướng 2020 đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3557 ngày 07/10/2008.

Điều 14. Nghiêm cấm các hành vi sau đây tại nơi tổ chức lễ hội

1. Lợi dụng lễ hội để tổ chức các hoạt động chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây mất trật tự, an ninh, tuyên truyền trái pháp luật, chia rẽ đoàn kết dân tộc.

2. Lợi dụng lễ hội xâm hại di tích, tổ chức các hoạt động mê tín dị đoan, truyền bá, tán phát ấn phẩm của các tà đạo và phục hồi hủ tục trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc và quy định của Nhà nước.

3. Bán vé vào các lễ hội (trừ các lễ hội được Uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép).

4. Tự ý đấu thầu dịch vụ, ngăn đường thu tiền trái với quy định ở các di tích tổ chức lễ hội như đình, đền, chùa, hang động…

5. Tổ chức đánh bạc dưới mọi hình thức và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

6. Dùng tiền công quỹ, tiền công đức, hiện vật công đức để tổ chức quà cáp, biếu tặng trong các ngày kỷ niệm, lễ tết.

Điều 15. Quản lý tổ chức lễ hội

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh trực tiếp quản lý và định kỳ tổ chức 5 năm một lần đối với lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc và Văn miếu Mao Điền. Những năm còn lại do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện tổ chức.

2. Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý và tổ chức định kỳ 5 năm một lần đối với các lễ hội dân gian diễn ra tại các di tích quốc gia. Những năm còn lại do Phòng Văn hoá và Thông tin hướng dẫn Ban quản lý di tích huyện hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức.

3. Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý và tổ chức định kỳ 3 năm một lần các lễ hội dân gian diễn ra tại các di tích cấp tỉnh và các lễ hội khác dưới sự hướng dẫn của Phòng Văn hoá và Thông tin. Những năm còn lại do thôn, khu dân cư tổ chức dưới sự quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp xã.

4. Lễ hội tổ chức ở địa phương nào thì địa phương đó phải có trách nhiệm vận động cộng đồng dân cư làng, xã thực hiện các nội dung lễ tiết, tham gia các hoạt động hội và đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng hướng dẫn nhân dân thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, dịch vụ, bày bán hàng quán đúng nơi quy định và đảm bảo an ninh trật tự. Gương mẫu thực hiện nếp sống văn minh, tuyên truyền, quảng bá sản phẩm lễ hội.

Điều 16. Đối với lễ hội dân gian

1. Thành lập Ban tổ chức lễ hội: Ban tổ chức lễ hội được thành lập theo quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tổ chức. Ban tổ chức gồm: Đại diện chính quyền làm trưởng ban, thành viên gồm các ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Công an, Nội vụ, Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Y tế, và đại diện các ngành, đoàn thể hoặc cá nhân khác có liên quan.

- Ban tổ chức lễ hội có trách nhiệm quản lý điều hành lễ hội theo kế hoạch chương trình kịch bản, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, tổ chức các dịch vụ ăn nghỉ và quản lý việc thu, chi trong lễ hội theo quy định hiện hành.

- Trong thời hạn 20 ngày kể từ khi kết thúc lễ hội, Ban tổ chức lễ hội phải có văn bản báo cáo kết quả với chính quyền cấp tổ chức và cơ quan quản lý nhà nước về Văn hoá cấp trên trực tiếp. Cụ thể như sau.

+ Lễ hội do cấp xã tổ chức phải báo cáo với Phòng Văn hoá- Thông tin huyện, thành phố.

+ Lễ hội do cấp huyện tổ chức phải báo cáo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

+ Lễ hội do cấp tỉnh tổ chức phải báo cáo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

2. Thời gian tổ chức lễ hội không kéo dài quá 3 ngày (trừ những trường hợp khác do cấp thẩm quyền quyết định).

3. Trong khu vực lễ hội, cờ tổ quốc phải treo ở nơi trang trọng, cao hơn cờ hội.

4. Việc tổ chức những trò chơi dân gian, hoạt động văn nghệ, thể thao ở lễ hội phải có nội dung bổ ích, lành mạnh, phù hợp với qui mô, tính chất, đặc điểm truyền thống của lễ hội.

5. Trang phục của các đoàn tế, rước phải đúng trang phục truyền thống.

6. Tổ chức quảng bá giới thiệu di tích, thân thế và sự nghiệp người được thờ.

7. Tổ chức, thiết kế, xây dựng các tua, tuyến du lịch nhằm phát huy thế mạnh của địa phương. Kết nối, phối hợp giữa các địa phương, khu vực trong tỉnh và ngoài tỉnh trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá lễ hội.

Điều 17. Đối với lễ hội tôn giáo

1. Lễ hội tôn giáo do tổ chức giáo hội hoặc chức sắc chủ trì phải theo Pháp lệnh số 21/2004/PL - UBTVQH/QH11 ngày 18 tháng 06 năm 2004 về tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 22/2005/NĐ - CP ngày 01 tháng 03 năm 2005 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.

2. Nghi thức lễ hội tôn giáo phải có sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo và cơ quan quản lý văn hoá ở địa phương.

3. Ban tổ chức lễ hội tôn giáo do Giáo hội quyết định trên cơ sở có sự thống nhất với chính quyền địa phương.

Điều 18. Lễ kỷ niệm

1. Lễ kỷ niệm về những sự kiện lịch sử cách mạng của đất nước và địa phương tổ chức theo chỉ đạo của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Tổ chức lễ đón nhận Huân chương, danh hiệu cao quý và các ngày lễ kỷ niệm, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 154/2004/NĐ - CP ngày 09 tháng 08 năm 2004 của Chính phủ về nghi thức Nhà nước trong tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm, trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

3. Tặng hoa theo quy định của Tỉnh uỷ.

Điều 19. Nguồn thu tài chính

1. Việc thu phí tham quan thực hiện theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương.

2. Việc thu, chi quỹ két, công đức thực hiện theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh và hướng dẫn của liên ngành Tài chính - Văn hoá, Thể thao Du lịch.

Mục 4. BÀI TRỪ MÊ TÍN DỊ ĐOAN

Điều 20. Cần phân biệt tín ngưỡng với mê tín dị đoan

1.Việc đi chùa, đền, đi lễ nhà thờ và thờ cúng tổ tiên thuộc tự do tín ngưỡng được pháp luật bảo vệ.

2. Việc xem số, xem bói, gọi hồn, sấm truyền, yểm bùa, trừ tà, chữa bệnh bằng phương pháp phù phép...là mê tín dị đoan.

Điều 21. Những quy định cụ thể

1. Nghiêm cấm việc xem số, xem bói, gọi hồn, sấm truyền, yểm bùa, trừ tà, chữa bệnh bằng phương pháp phù phép.

2. Nghiêm cấm việc tổ chức truyền bá những đạo lạ chưa được nhà nước cho phép.

3. Nghiêm cấm việc tự ý lập phủ tại gia và tập trung đông người để truyền bá trái pháp luật, tổ chức hoạt động mê tín dị đoan.

4. Cấm đốt đồ mã (hình nhân, nhà lầu, xe cộ...) tại các di tích lịch sử văn hoá và trong ngày hội.

5. Các cơ sở tín ngưỡng như: đình, chùa, miếu, điện...không được tự động mở rộng nội dung thờ tự, khi có nhu cầu cơi nới, tôn tạo phải tuân thủ Luật di sản và được phép của chính quyền địa phương, Sở Nội vụ, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Chương III

KHEN THƯỞNG, XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 22. Khen thưởng

Tổ chức, cá nhân có thành tích thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan sẽ được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 23. Xử lý vi phạm

Các đối tượng quy định tại Điều 2 Quy định này có hành vi vi phạm quy định hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định trong Quy định này tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chương IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 24. Tổ chức thực hiện

1.Thủ trưởng cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang có trách nhiệm phổ biến, giáo dục, động viên và quản lý cán bộ, công chức, viên trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của mình thực hiện Quy định này.

2. Uỷ ban Nhân dân các huyện, thành phố căn cứ nội dung Quy định xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan tới toàn thể nhân dân ở địa phương và đưa vào tiêu chí bình xét công nhận danh hiệu Gia đình văn hoá và Làng, Khu dân cư văn hoá, cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch vững mạnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

3. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có hướng dẫn xây dựng mô hình điểm phù hợp với phong tục tập quán từng vùng, tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm từ những cơ sở làm tốt nhân ra diện rộng. Gắn việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan với việc đánh giá việc duy trì, phát huy danh hiệu Làng, Khu dân cư văn hóa hàng năm. Theo dõi và báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh kết quả thực hiện Quy định này.

4. Các cơ quan Báo Hải Dương, Đài phát thanh & Truyền hình tỉnh có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền sâu rộng, phát hiện, cổ vũ, động viên những mô hình hay, kinh nghiệm tốt trong việc thực hiện Quy định; phê phán các biểu hiện tiêu cực, hành vi vi phạm Quy định./.

HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 33/2009/QĐ-UBND quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan trên địa bàn tỉnh Hải Dương

  • Số hiệu: 33/2009/QĐ-UBND
  • Loại văn bản: Quyết định
  • Ngày ban hành: 12/11/2009
  • Nơi ban hành: Tỉnh Hải Dương
  • Người ký: Nguyễn Thị Minh
  • Ngày công báo: Đang cập nhật
  • Số công báo: Đang cập nhật
  • Ngày hiệu lực: 22/11/2009
  • Ngày hết hiệu lực: 08/08/2014
  • Tình trạng hiệu lực: Hết hiệu lực
Tải văn bản