Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 được ban hành nhằm cụ thể hóa chính sách của Nhà nước về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, xác lập hành lang pháp lý bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức tôn giáo, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Văn bản do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An ký ban hành.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động này tại Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm công dân Việt Nam, chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, các tổ chức tôn giáo, hội đoàn tôn giáo, dòng tu, cũng như người nước ngoài cư trú và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Các nội dung chính sách và quy định cốt lõi
1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
- Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do này và nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm.
- Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau.
- Chức sắc, nhà tu hành và tín đồ được hưởng đầy đủ quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân. Chức sắc có vai trò giáo dục tín đồ lòng yêu nước và ý thức chấp hành pháp luật.
- Các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp, kinh bổn và đồ dùng thờ cúng được pháp luật bảo hộ nghiêm ngặt.
2. Hệ thống định nghĩa và giải thích từ ngữ pháp lý
Pháp lệnh đưa ra các định nghĩa chuẩn xác nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật:
- Hoạt động tín ngưỡng: Là hoạt động thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công, thờ cúng thần thánh truyền thống và các hoạt động dân gian tốt đẹp khác.
- Cơ sở tín ngưỡng: Nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
- Tổ chức tôn giáo: Tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và có cơ cấu tổ chức được Nhà nước công nhận.
- Hoạt động tôn giáo: Việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi và quản lý tổ chức tôn giáo.
- Tín đồ, Nhà tu hành, Chức sắc: Xác định rõ vai trò từ người tin theo, người thực hiện nếp sống tu hành thường xuyên, đến người có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo.
3. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các hành vi bị nghiêm cấm
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm tập hợp đồng bào có và không có tôn giáo để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phản ánh nguyện vọng của nhân dân và giám sát việc thực hiện chính sách tôn giáo.
- Nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
- Nghiêm cấm lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh hoặc trái pháp luật; chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, tôn giáo; gây rối trật tự công cộng; xâm hại tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tài sản của người khác; hoạt động mê tín dị đoan.
4. Đăng ký và quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
- Chức sắc, nhà tu hành thực hiện lễ nghi, giảng đạo trong phạm vi phụ trách. Nếu thực hiện ngoài phạm vi này phải được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện nơi thực hiện.
- Người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm với UBND cấp xã. Hoạt động ngoài chương trình phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
- Người đang chấp hành án phạt tù hoặc đang bị quản chế không được chủ trì lễ nghi, truyền đạo, giảng đạo hoặc quản lý tổ chức tôn giáo. Sau khi chấp hành xong, phải được tổ chức tôn giáo đăng ký và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận mới được hoạt động trở lại.
- Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị đình chỉ nếu xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng, môi trường, gây chia rẽ khối đại đoàn kết hoặc vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
5. Điều kiện công nhận và tổ chức hoạt động của tổ chức tôn giáo
- Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện: Có giáo lý, giáo luật không trái thuần phong mỹ tục; có hiến chương, điều lệ gắn bó với dân tộc; có đăng ký và hoạt động ổn định; có trụ sở, tổ chức, người đại diện hợp pháp và tên gọi không trùng lặp.
- Thủ tướng Chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo hoạt động liên tỉnh; Chủ tịch UBND cấp tỉnh công nhận tổ chức hoạt động chủ yếu trong phạm vi một tỉnh.
- Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập tổ chức tôn giáo cơ sở phải được UBND cấp tỉnh chấp thuận; các trường hợp khác phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.
- Hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tương ứng với từng cấp tổ chức (UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương).
- Hội đoàn tôn giáo, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể phải đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi hoạt động.
- Việc đi tu phải dựa trên tinh thần tự nguyện; người chưa thành niên đi tu phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người phụ trách cơ sở tôn giáo phải đăng ký người vào tu với UBND cấp xã.
6. Phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển và đào tạo tôn giáo
- Việc phong chức, bổ nhiệm, bầu cử trong tôn giáo thực hiện theo hiến chương, điều lệ và phải đăng ký với cơ quan nhà nước. Người được phong chức phải là công dân Việt Nam, có đạo đức tốt, tinh thần đoàn kết và chấp hành pháp luật. Trường hợp có yếu tố nước ngoài phải thỏa thuận trước với cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương.
- Thuyên chuyển nơi hoạt động của chức sắc, nhà tu hành phải thông báo với UBND cấp huyện nơi đi và đăng ký với UBND cấp huyện nơi đến. Nếu chức sắc từng bị xử lý hành chính hoặc hình sự về tôn giáo, việc thuyên chuyển phải được UBND cấp tỉnh nơi đến chấp thuận.
- Thành lập trường đào tạo tôn giáo phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam là các môn học chính khóa bắt buộc. Việc mở lớp bồi dưỡng tôn giáo phải được Chủ tịch UBND cấp tỉnh chấp thuận.
7. Quản lý tài sản, đất đai và xây dựng cơ sở tôn giáo
- Đất đai do cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng sử dụng hợp pháp được sử dụng ổn định lâu dài theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được quyên góp, nhận tài sản hiến tặng tự nguyện. Việc quyên góp phải công khai, rõ ràng mục đích và thông báo trước với UBND nơi tổ chức. Nghiêm cấm lợi dụng quyên góp để trục lợi cá nhân.
- Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tôn giáo phải tuân thủ pháp luật về xây dựng. Thay đổi mục đích sử dụng công trình tín ngưỡng phải được UBND cấp huyện chấp thuận; đối với công trình tôn giáo phải được UBND cấp tỉnh chấp thuận.
- Di dời công trình tôn giáo vì quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải được trao đổi trước với người đại diện và thực hiện đền bù theo quy định.
8. Hoạt động xã hội, từ thiện và quan hệ quốc tế
- Nhà nước khuyến khích tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo, nuôi dạy trẻ em hoàn cảnh đặc biệt, hỗ trợ y tế cho người nghèo, người tàn tật và phát triển giáo dục mầm non.
- Tổ chức tôn giáo, tín đồ được thực hiện quan hệ quốc tế theo hiến chương và pháp luật Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền.
- Phải được cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương chấp thuận khi: mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam; triển khai chủ trương của tổ chức nước ngoài; cử người tham gia hoạt động hoặc đào tạo ở nước ngoài; chức sắc nước ngoài giảng đạo tại Việt Nam.
- Người nước ngoài vào Việt Nam được mang theo xuất bản phẩm, đồ dùng tôn giáo phục vụ nhu cầu bản thân và được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật Việt Nam.
Hiệu lực thi hành và Điều khoản chuyển tiếp
Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2004.
Các tổ chức tôn giáo đã được công nhận, các hội đoàn tôn giáo, dòng tu, tu viện đã đăng ký và được phép hoạt động trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực thì không phải làm thủ tục công nhận hoặc đăng ký lại. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 21/2004/PL-UBTVQH11 | Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2004 |
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Nghị quyết số 21/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2004;
Pháp lệnh này quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.
Chức sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật.
Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
2. Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, bao gồm đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác.
3. Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận.
4. Tổ chức tôn giáo cơ sở là đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo bao gồm ban hộ tự hoặc ban quản trị chùa của đạo Phật, giáo xứ của đạo Công giáo, chi hội của đạo Tin lành, họ đạo của đạo Cao đài, ban trị sự xã, phường, thị trấn của Phật giáo Hoà hảo và đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo khác.
5. Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo.
6. Hội đoàn tôn giáo là hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo.
7. Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận.
8. Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận.
9. Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo.
10. Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo.
a) Tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
b) Phản ảnh kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
c) Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, người có tín ngưỡng, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
d) Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan nhà nước chủ động phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc tuyên truyền, vận động và thực hiện các chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.
HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI CÓ TÍN NGƯỠNG VÀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO CỦA TÍN ĐỒ, NHÀ TU HÀNH, CHỨC SẮC
2. Trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, người có tín ngưỡng, tín đồ có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.
2. Thẩm quyền chấp thuận việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng do Chính phủ quy định.
2. Đối với người đã chấp hành xong các hình phạt hoặc biện pháp xử lý hành chính quy định tại khoản 1 Điều này, chỉ sau khi được tổ chức tôn giáo đăng ký hoạt động và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được chủ trì lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo và quản lý tổ chức của tôn giáo.
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị đình chỉ nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
1. Xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc môi trường;
2. Tác động xấu đến đoàn kết nhân dân, đến truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc;
3. Xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác;
4. Có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác.
TỔ CHỨC TÔN GIÁO VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO
1. Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc;
b) Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật;
c) Có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định;
d) Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp;
đ) Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
2. Thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo:
a) Thủ tướng Chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo cơ sở phải được sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh).
3. Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.
2. Việc tổ chức hội nghị, đại hội cấp trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương.
3. Việc tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hội nghị, đại hội.
2. Việc đăng ký hội đoàn tôn giáo được quy định như sau:
a) Hội đoàn tôn giáo có phạm vi hoạt động trong một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi hội đoàn hoạt động;
b) Hội đoàn tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi hội đoàn hoạt động;
c) Hội đoàn tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương.
2. Người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử phải đáp ứng các điều kiện sau đây mới được Nhà nước thừa nhận:
a) Là công dân Việt Nam, có tư cách đạo đức tốt;
b) Có tinh thần đoàn kết, hoà hợp dân tộc;
c) Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
3. Việc cách chức, bãi nhiệm chức sắc trong tôn giáo được thực hiện theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo.
Trường hợp chức sắc, nhà tu hành vi phạm pháp luật về tôn giáo đã bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xử lý vi phạm hành chính hoặc đã bị xử lý về hình sự thì khi thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo còn phải được sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi đến theo quy định của Chính phủ.
2. Việc thành lập trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.
Việc chiêu sinh của trường đào tạo tôn giáo phải thực hiện theo nguyên tắc công khai, tự nguyện của thí sinh và điều lệ hoạt động của trường đã được phê duyệt.
Môn học về lịch sử Việt Nam, pháp luật Việt Nam là các môn học chính khoá trong chương trình đào tạo tại trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo.
3. Việc mở các lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo phải được sự chấp thuận của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi mở lớp.
Các cuộc lễ của tổ chức tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Cuộc lễ có sự tham gia của tín đồ trong phạm vi một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải được Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra cuộc lễ chấp thuận;
2. Cuộc lễ có sự tham gia của tín đồ đến từ nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc từ nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra cuộc lễ chấp thuận.
2. Đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được sử dụng ổn định lâu dài.
3. Việc quản lý và sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Việc tổ chức quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo phải công khai, rõ ràng mục đích sử dụng và trước khi quyên góp phải thông báo với Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức quyên góp.
3. Không được lợi dụng việc quyên góp để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc thực hiện những mục đích trái pháp luật.
Việc quản lý, sử dụng, cải tạo, nâng cấp công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo là di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật có liên quan.
Khi thay đổi mục đích sử dụng của các công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng phải có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp huyện; khi thay đổi mục đích sử dụng của các công trình thuộc cơ sở tôn giáo phải có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật.
QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO, TÍN ĐỒ, NHÀ TU HÀNH, CHỨC SẮC
Khi thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế, tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc phải bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và công việc nội bộ của các quốc gia.
1. Mời tổ chức, người nước ngoài vào Việt Nam hoặc triển khai chủ trương của tổ chức tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam;
2. Tham gia hoạt động tôn giáo, cử người tham gia khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài.
2. Hội đoàn tôn giáo, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác của tôn giáo đã đăng ký và được phép hoạt động trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực thì không phải làm thủ tục đăng ký lại.
Điều 41 Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
| Nguyễn Văn An (Đã ký) |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Nghị quyết số 21/2003/QH11 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2004 do Quốc Hội ban hành
- 4Nghị định 22/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
- 5Thông tư liên tịch 182/2007/TTLT-BQP-BCA-BGD&ĐT-BNV hướng dẫn Nghị định 116/2007/NĐ-CP về giáo dục quốc phòng- an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ ban hành
- 6Lệnh công bố Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004
- 7Nghị định 92/2012/NĐ-CP hướng dẫn biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004
- Số hiệu: 21/2004/PL-UBTVQH11
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 18/06/2004
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Văn An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 29 đến số 30
- Ngày hiệu lực: 15/11/2004
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
