Quyết định 1123/2011/QĐ-CTN được ban hành bởi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước thông qua việc đặc xá, tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn và tù chung thân nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/2011). Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá được tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2011.
Đối tượng được áp dụng đặc xá
Đối tượng được xét đặc xá bao gồm người bị kết án phạt tù có thời hạn và người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, hiện đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam do Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng quản lý.
Điều kiện để được đề nghị đặc xá
Người được đề nghị đặc xá phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện tiêu chuẩn sau đây:
- Điều kiện về ý thức cải tạo và chấp hành quy định: Chấp hành tốt Nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên trong quá trình chấp hành án; và việc đặc xá không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Điều kiện về thời gian chấp hành án phạt tù: Đã chấp hành ít nhất một phần ba (1/3) thời hạn đối với hình phạt tù có thời hạn (không tính thời gian đã được giảm án trước đó vào thời gian đã chấp hành). Đối với hình phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, phải chấp hành ít nhất mười bốn (14) năm (không tính các lần giảm thời hạn chấp hành án sau đó).
- Điều kiện về thực hiện nghĩa vụ dân sự: Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc các nghĩa vụ dân sự khác. Quy định này ngoại trừ những phạm nhân không phạm các tội về tham nhũng thuộc các trường hợp: từ 70 tuổi trở lên; hoặc trên 60 tuổi nhưng thường xuyên ốm đau; hoặc người đang mắc bệnh hiểm nghèo mà bản thân và gia đình hoàn toàn không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.
Các trường hợp được giảm thời gian chấp hành án tối thiểu để xét đặc xá
Người chấp hành án chỉ cần hoàn thành ít nhất một phần tư (1/4) thời hạn tù đối với tù có thời hạn, hoặc ít nhất mười hai (12) năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu đáp ứng các điều kiện về ý thức cải tạo, nghĩa vụ dân sự và thuộc một trong các trường hợp đặc biệt sau:
- Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù và được trại giam, trại tạm giam xác nhận.
- Là thương binh, bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng các danh hiệu cao quý như Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân; được tặng Huân, Huy chương kháng chiến hoặc danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng hoặc con của Gia đình có công với nước.
- Là người chưa thành niên khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Là người từ 70 tuổi trở lên.
- Là người từ 60 tuổi trở lên thường xuyên ốm đau hoặc người đang mắc bệnh hiểm nghèo, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền.
- Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình cư trú xác nhận.
- Nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam.
Các trường hợp không được đề nghị đặc xá
Dù có đủ các điều kiện nêu trên, người bị kết án vẫn không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một hành vi phạm tội khác.
- Trước đó đã từng được đặc xá.
- Có từ hai tiền án trở lên.
- Phạm các tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia.
- Thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu (06) năm đối với trường hợp thông thường, hoặc trên tám (08) năm đối với các trường hợp ưu tiên giảm thời gian chấp hành án.
- Phạm các tội về ma túy và có thời hạn chấp hành án còn lại vượt quá mức quy định: còn lại trên một (01) năm đối với hình phạt tù đến bảy năm; còn lại trên hai (02) năm đối với hình phạt tù từ trên bảy năm đến mười lăm năm; còn lại trên ba (03) năm đối với hình phạt tù trên mười lăm năm hoặc tù chung thân.
- Có căn cứ xác định đã sử dụng trái phép chất ma túy.
- Đồng thời phạm hai tội kết hợp thuộc các cặp tội danh: giết người và cướp tài sản; giết người và hiếp dâm; giết người và hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em.
- Phạm tội giết người có tổ chức; cướp tài sản có tổ chức hoặc có sử dụng vũ khí; cướp giật tài sản có tính chất chuyên nghiệp; cướp giật tài sản có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
- Có một tiền án hoặc đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục mà nay lại bị kết án phạt tù về một trong các tội: ma túy; giết người; hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; mua bán phụ nữ; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ hoặc băng, nhóm thanh toán lẫn nhau.
Đặc xá trong trường hợp đặc biệt
Trong các trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 21 và Điều 22 của Luật đặc xá, Chính phủ chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan lập hồ sơ để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và tập hợp hồ sơ, danh sách những người đang được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thuộc diện được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt này.
Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
Chính phủ chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến ý nghĩa, mục đích và nội dung của hoạt động đặc xá năm 2011. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp thực hiện đặc xá theo đúng quy định pháp luật.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá, cùng Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1123/2011/QĐ-CTN | Hà Nội, ngày 19 tháng 07 năm 2011 |
VỀ ĐẶC XÁ NĂM 2011
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Luật đặc xá năm 2007;
Thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, khuyến khích họ phấn đấu học tập, rèn luyện tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội;
Xét đề nghị của Chính phủ tại Tờ trình số 109/TTr-CP, ngày 12/7/2011,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/2011).
Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2011.
Điều 2. Đối tượng đặc xá bao gồm:
Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý.
Điều 3. Điều kiện được đề nghị đặc xá
a) Chấp hành tốt Nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành án phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
b) Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần ba thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
c) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác trừ những phạm nhân không bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng đã 70 tuổi trở lên hoặc trên 60 tuổi nhưng thường xuyên ốm đau hoặc người đang mắc bệnh hiểm nghèo mà bản thân người đó và gia đình không còn khả năng thực hiện.
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;
b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân; được tặng thưởng Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;
c) Khi phạm tội là người chưa thành niên;
d) Là người từ 70 tuổi trở lên;
đ) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc từ 60 tuổi trở lên mà thường xuyên ốm đau, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú;
e) Nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam.
Điều 4. Các trường hợp không đề nghị đặc xá:
Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 3 của Quyết định này không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
2. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác;
3. Trước đó đã được đặc xá;
4. Có từ hai tiền án trở lên;
5. Phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia;
6. Thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu năm đối với người được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 3; trên tám năm đối với người được quy định tại khoản 2, Điều 3 Quyết định này.
7. Phạm các tội về ma túy bị phạt tù đến bảy năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên một năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên bảy năm đến mười lăm năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên hai năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên mười lăm năm, tù chung thân mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên ba năm;
8. Có căn cứ khẳng định là đã sử dụng trái phép chất ma túy;
9. Đồng thời phạm hai tội: giết người và cướp tài sản; giết người và hiếp dâm; giết người và hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em;
10. Phạm tội giết người có tổ chức; cướp tài sản có tổ chức hoặc có sử dụng vũ khí; cướp giật tài sản có tính chất chuyên nghiệp; cướp giật tài sản có tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
11. Có một tiền án hoặc đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: về ma túy; giết người; hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; mua bán phụ nữ; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ hoặc băng, nhóm thanh toán lẫn nhau.
Điều 5. Đặc xá trong trường hợp đặc biệt
1. Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt theo Điều 21, 22 của Luật đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
2. Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo, hướng dẫn và tập hợp hồ sơ, danh sách người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt.
Điều 6. Chính phủ chỉ đạo việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến về ý nghĩa mục đích và nội dung của hoạt động đặc xá; chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan khác của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện đặc xá theo quy định của Luật đặc xá, Quyết định về đặc xá năm 2011 của Chủ tịch nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều 7. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.
Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận: | CHỦ TỊCH |
- 1Quyết định 105-QĐ/CTN năm 1993 về việc đặc xá cho phạm nhân nhân dịp quốc khánh năm 1993 do Chủ Tịch nước ban hành.
- 2Quyết định 103/1998/QĐ-CTN về việc đặc xá năm 1998 do Chủ tịch nước ban hành
- 3Quyết định 1744/2008/QĐ-CTN về đặc xá năm 2009 do Chủ tịch nước ban hành
- 4Công điện 1056/CĐ-TTg thực hiện công tác đặc xá năm 2015
- 1Quyết định 105-QĐ/CTN năm 1993 về việc đặc xá cho phạm nhân nhân dịp quốc khánh năm 1993 do Chủ Tịch nước ban hành.
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Quyết định 103/1998/QĐ-CTN về việc đặc xá năm 1998 do Chủ tịch nước ban hành
- 4Luật Đặc xá 2007
- 5Quyết định 1744/2008/QĐ-CTN về đặc xá năm 2009 do Chủ tịch nước ban hành
- 6Hướng dẫn 48/HĐTVDX thực hiện Quyết định 1123/2011/QĐ-CTN về đặc xá năm 2011 do Hội đồng tư vấn đặc xá ban hành
- 7Công điện 1056/CĐ-TTg thực hiện công tác đặc xá năm 2015
Quyết định 1123/2011/QĐ-CTN về đặc xá năm 2011 do Chủ tịch nước ban hành
- Số hiệu: 1123/2011/QĐ-CTN
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 19/07/2011
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/07/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
