Quyết định 103/1998/QĐ-CTN do Chủ tịch nước ban hành quy định về việc tiến hành đặc xá, tha tù trước thời hạn cho những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù và miễn chấp hành hình phạt còn lại cho người được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù nhân dịp năm 1998. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải và tích cực cải tạo.
Phạm vi và đối tượng áp dụng đặc xá
Quyết định quy định cụ thể hai nhóm đối tượng được xem xét áp dụng chính sách đặc xá bao gồm:
- Phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quản lý.
- Người đang được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thuộc diện xem xét miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại.
Điều kiện để được đặc xá tha tù trước thời hạn
Để được hưởng đặc xá tha tù trước thời hạn, phạm nhân đang chấp hành án phạt tù phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện khắt khe sau đây:
- Về ý thức cải tạo: Phạm nhân phải liên tục chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam; tích cực học tập, lao động cải tạo. Đồng thời, qua quá trình theo dõi, cơ quan chức năng xét thấy rõ ràng phạm nhân có biểu hiện khi được tha tù trước thời hạn sẽ không làm phương hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và có đủ khả năng để trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
- Về thời gian chấp hành hình phạt: Phạm nhân phải đã chấp hành hình phạt tù ít nhất là 1/3 (một phần ba) thời hạn đối với hình phạt tù có thời hạn; hoặc đã chấp hành ít nhất là 12 (mười hai) năm đối với hình phạt tù chung thân.
Quy định miễn chấp hành hình phạt còn lại và các trường hợp đặc biệt
Bên cạnh các điều kiện chung, Quyết định cũng mở rộng diện xem xét nhân đạo đối với các trường hợp đặc biệt:
- Miễn chấp hành hình phạt còn lại: Áp dụng đối với những người đang được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù mà đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị ốm nặng kéo dài, đồng thời được xác định là không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.
- Các trường hợp được rút ngắn thời gian chấp hành hình phạt tù: Đối với những phạm nhân đáp ứng được điều kiện về ý thức cải tạo tốt (chấp hành tốt quy chế, tích cực học tập, lao động) nhưng thuộc một trong các diện sau thì thời gian đã chấp hành hình phạt tù có thể ngắn hơn mức quy định chung (ngắn hơn 1/3 thời hạn hoặc ngắn hơn 12 năm):
- Người lập công trong quá trình chấp hành án phạt tù.
- Người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc người quá già yếu.
- Người có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.
- Người là người chưa thành niên khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Người trước khi phạm tội là thương binh, bệnh binh; cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang có nhiều thành tích.
- Người có công với cách mạng hoặc người có gia đình là nhà có công với nước.
- Các trường hợp đặc biệt khác do cơ quan có thẩm quyền xem xét cụ thể.
Thành lập và nhiệm vụ của Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương
Để đảm bảo công tác đặc xá được thực hiện khách quan, công bằng và đúng pháp luật, Quyết định quy định thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương với cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ rõ ràng:
- Thành phần Hội đồng: Do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Hội đồng. Các thành viên bao gồm: Chánh án Toà án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Trưởng ban Ban Nội chính Trung ương; và Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương do Chủ tịch Hội đồng quyết định.
- Nhiệm vụ của Hội đồng: Chịu trách nhiệm hướng dẫn cụ thể về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng; đồng thời tổ chức xét duyệt danh sách những phạm nhân đủ điều kiện được đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Phối hợp thực hiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
Quyết định giao trách nhiệm cho Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạm nhân theo đúng các quy định tại Điều 49, Điều 51 của Bộ luật Hình sự và các Điều 237, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực tại thời điểm đó.
Hiệu lực thi hành
Quyết định 103/1998/QĐ-CTN có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các thành viên của Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương và Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 103/1998/QĐ-CTN | Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 1998 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ ĐẶC XÁ NĂM 1998
CHỦ TỊCHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 02 tháng 9 năm 1998;
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Xét đề nghị của Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình số 620/CP-NC ngày 5 tháng 6 năm 1998.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đối với những phạm nhân được hưởng đặc xá tha tù trước thời hạn phải có đủ các điều kiện sau:
a. Liên tục chấp hành tốt quy chế, nội quy trại giam, tích cực học tập, lao động, xét thấy rõ ràng có biểu hiện khi được tha tù trước thời hạn không làm phương hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sẽ trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội.
b. Đã chấp hành hình phạt tù ít nhất là 1/3 (một phần ba) thời hạn đối với hình phạt tù có thời hạn; 12 (mười hai) năm đối với tù chung thân.
2. Những người được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm nặng kéo dài không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội thì được miễn chấp hành hình phạt còn lại.
3. Đối với những phạm nhân: Lập công trong quá trình chấp hành án phạt tù; đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc quá già yếu; có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn; khi phạm tội là người chưa thành niên; trước khi phạm tội là thương binh, bệnh binh; cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang có nhiều thành tích; người có công với cách mạng; gia đình có công với nước và các trường hợp đặc biệt khác có đủ điều kiện như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 thì thời gian đã chấp hành hình phạt tù có thể ngắn hơn.
Điều 2.
1. Thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch và các thành viên: Chánh án Toà án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Công an; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Trưởng ban Ban Nội chính Trung ương; Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thường trực Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương do Chủ tịch Hội đồng quyết định.
Điều 3. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạm nhân theo quy định tại Điều 49, 51 của Bộ luật Hình sự và các Điều 237, 238 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 4. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
|
| Trần Đức Lương (Đã ký) |
- 1Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 2Công văn 713/TTr-NC của Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định đặc xã năm 1998 của Chủ tịch nước
- 3Hướng dẫn 01/2000/TVĐX thi hành Quyết định 35/QĐ-CTN về đặc xá năm 2000 do Hội đồng tư vấn đặc xá trung ương ban hành
- 4Quyết định 1123/2011/QĐ-CTN về đặc xá năm 2011 do Chủ tịch nước ban hành
- 5Quyết định 1124/QĐ-CTN năm 2011 thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá do Chủ tịch nước ban hành
Quyết định 103/1998/QĐ-CTN về việc đặc xá năm 1998 do Chủ tịch nước ban hành
- Số hiệu: 103/1998/QĐ-CTN
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 06/06/1998
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/06/1998
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
