Quyết định 1744/2008/QĐ-CTN do Chủ tịch nước ban hành là văn bản pháp lý quan trọng quy định về đợt đặc xá tha tù trước thời hạn nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Sửu và kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2009). Dưới đây là tóm tắt chi tiết và toàn diện các nội dung cốt lõi của Quyết định này.
- Mục đích, thời gian và đối tượng áp dụng đặc xá
Quyết định quy định việc thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho các phạm nhân nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Sửu (năm 2009) và kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các mốc thời gian và đối tượng cụ thể bao gồm:
- Thời gian chấp hành hình phạt tù để xét đặc xá: Được tính đến hết ngày 31/12/2008.
- Đối tượng được xét đặc xá: Người bị kết án phạt tù có thời hạn hoặc người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, hiện đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quản lý.
- Điều kiện tiêu chuẩn để được đề nghị đặc xá
Để được đề nghị đặc xá, người bị kết án phạt tù phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện cơ bản sau đây:
- Ý thức cải tạo: Chấp hành tốt Quy chế, Nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; được xếp loại cải tạo từ khá trở lên trong quá trình chấp hành hình phạt tù; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
- Thời gian đã chấp hành án:
- Đối với hình phạt tù có thời hạn: Đã chấp hành ít nhất là một phần ba (1/3) thời gian hình phạt. Trường hợp trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án thì thời gian được giảm này không được tính vào thời gian đã chấp hành thực tế.
- Đối với hình phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn: Đã chấp hành ít nhất là mười bốn (14) năm. Nếu sau khi giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn thì thời gian giảm sau đó cũng không được tính vào thời gian đã chấp hành thực tế.
- Nghĩa vụ dân sự: Đã chấp hành xong hoàn toàn các hình phạt bổ sung bao gồm phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc các nghĩa vụ dân sự khác theo bản án.
- Các trường hợp ưu tiên giảm thời gian chấp hành án để xét đặc xá
Người chấp hành án chỉ cần chấp hành ít nhất một phần tư (1/4) thời gian đối với tù có thời hạn, hoặc ít nhất mười hai (12) năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn (đồng thời đáp ứng điều kiện về ý thức cải tạo và nghĩa vụ dân sự) nếu thuộc một trong các trường hợp ưu tiên sau:
- Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù và có xác nhận cụ thể của trại giam, trại tạm giam.
- Là thương binh, bệnh binh hoặc người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng các danh hiệu cao quý như Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
- Có thân nhân là liệt sỹ, là con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng hoặc con của gia đình có công với nước.
- Đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc thường xuyên ốm đau, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền.
- Người phạm tội khi chưa thành niên.
- Người từ 70 tuổi trở lên.
- Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình (có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình cư trú).
- Nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam.
- Các trường hợp bị loại trừ, không được đề nghị đặc xá
Dù có đủ các điều kiện quy định chung, người bị kết án vẫn không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một hành vi phạm tội khác.
- Trước đó đã từng được đặc xá một lần.
- Có từ hai tiền án trở lên.
- Phạm các tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia.
- Thời hạn tù còn lại quá dài: Còn trên 8 năm đối với người thuộc diện thông thường; hoặc còn trên 10 năm đối với người thuộc diện ưu tiên.
- Phạm các tội về ma túy mà thời hạn tù còn lại vẫn còn trên một năm.
- Có căn cứ xác định rõ ràng là đã sử dụng trái phép các chất ma túy.
- Đồng thời phạm hai tội nghiêm trọng kết hợp: Giết người và cướp tài sản; giết người và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em. Hoặc phạm tội cướp tài sản có tổ chức và có sử dụng vũ khí.
- Đã có một tiền án nhưng lại tiếp tục phạm một trong các tội nguy hiểm như: tội về ma túy; giết người; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hiếp dâm; hiếp dâm trẻ em; chống người thi hành công vụ; gây rối trật tự công cộng; cố ý truyền HIV cho người khác; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; mua bán phụ nữ; mua bán trẻ em; trốn khỏi nơi giam giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, xét xử; đánh tháo người bị giam giữ, dẫn giải, xét xử; cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ hoặc hành vi thanh toán lẫn nhau theo băng, ổ, nhóm.
- Quy trình đặc xá trong trường hợp đặc biệt và trách nhiệm thi hành
Quyết định cũng quy định rõ cơ chế phối hợp và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc triển khai công tác đặc xá:
- Đặc xá trong trường hợp đặc biệt: Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao để lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt, sau đó trình Chủ tịch nước xem xét và quyết định trực tiếp.
- Công tác tuyên truyền và chỉ đạo: Chính phủ chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ý nghĩa, mục đích và nội dung của hoạt động đặc xá năm 2009. Đồng thời, chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện nghiêm túc công tác đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá và Quyết định này.
- Hiệu lực thi hành: Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng Tư vấn đặc xá, cùng Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1744/2008/QĐ-CTN | Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2008 |
VỀ ĐẶC XÁ NĂM 2009
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/ QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
- Căn cứ Luật Đặc xá năm 2007
- Thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, khuyến khích họ phấn đấu học tập, rèn luyện tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội;
- Xét đề nghị của Chính phủ,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp Tết nguyên đán Kỷ Sửu ( năm 2009) và 79 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2009)
Thời gian đã chấp hành hình phạt tù để xét đặc xá đến ngày 31/12/2008.
Điều 2. Đối tượng đặc xá bao gồm:
Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam do Bộ công an, Bộ Quốc phòng quản lý.
Điều 3. Điều kiện được đề nghị đặc xá.
Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chấp hành tốt Quy chế, Nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
b) Đã chấp hành hình phạt tù ít nhất là một phần 3 thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù; đã chấp hành hình phạt tù ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù;
c) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác.
Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều này đã chấp hành hình phạt tù ít nhất là một phần tư thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn; ít nhất là mười hai năm đối với hình phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;
b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội đượctặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước
c) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;
d) Khi phạm tội là người chưa thành niên;
đ) Là người từ 70 tuổi trở lên
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú
g) Nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam.
Điều 4. Các trường hợp không đề nghị đặc xá:
Người có đủ điều kiện quy định tại
Bản án hoặc quyết định của Toà án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác
Trước đó đã được đặc xá
Có từ hai tiền án trở lên
Phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về an ninh quốc gia;
Thời hạn tù còn lại trên tám năm đối với người được quy định tại điểm b khoản 1, Điều 3; trên mười năm đối với người được quy định tại
Phạm các tội về ma tuý mà thời hạn tù còn lại trên một năm
Có căn cứ khẳng định là đã sử dụng trái phép các chất ma tuý;
Đồng thời phạm hai tội: giết người và cướp tài sản; giết người và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em. Phạm tội cướp tài sản có tổ chức và có vũ khí;
Có một tiền án mà phạm một trong các tội: về ma tuý; giết người; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hiếp dâm; hiếp dâm trẻ em; chống người thi hành công vụ; gây rối trật tự công cộng; cố ý truyền HIV cho người khác; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; mua, bán phụ nữ; mua, bán trẻ em; trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử; đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử; cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ hoặc băng, ổ, nhóm thanh toán lẫn nhau.
Điều 5. Đặc xá trong trường hợp đặc biệt:
Chính phủ chủ trì phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Điều 6. Chính phủ chỉ đạo việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến về ý nghĩa, mục đích và nội dung của hoạt động đặc xá; chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan khác của Chính phủ và Uỷ ban nhân các cấp thực hiện đặc xá theo quy định của Luật đặc xá, Quyết định về đặc xá năm 2009 của Chủ tịch nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều 7. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.
Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng Tư vấn đặc xá, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| CHỦ TỊCH |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Đặc xá 2007
- 4Hướng dẫn 82/HĐTVĐX năm 2008 triển khai thực hiện Quyết định số 1744/2008/QĐ-CTN về đặc xá năm 2009 do Hội đồng tư vấn đặc xá ban hành
- 5Quyết định 1123/2011/QĐ-CTN về đặc xá năm 2011 do Chủ tịch nước ban hành
- 6Quyết định 1124/QĐ-CTN năm 2011 thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá do Chủ tịch nước ban hành
- 7Công điện 1056/CĐ-TTg thực hiện công tác đặc xá năm 2015
Quyết định 1744/2008/QĐ-CTN về đặc xá năm 2009 do Chủ tịch nước ban hành
- Số hiệu: 1744/2008/QĐ-CTN
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 04/12/2008
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 04/12/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
