Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông năm 1994 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành (do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký) nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý toàn diện về bảo vệ, duy tu và quản lý hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông, góp phần bảo đảm an toàn giao thông, phát triển kinh tế quốc dân và giữ vững quốc phòng, an ninh.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này điều chỉnh các hoạt động bảo vệ công trình giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông phục vụ giao thông vận tải công cộng. Các công trình giao thông hàng không dân dụng và hàng hải không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh này mà tuân theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam và Bộ luật hàng hải Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm mọi cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, công dân Việt Nam và các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động, cư trú trên lãnh thổ Việt Nam.
Phân loại và phạm vi bảo vệ công trình giao thông
- Hệ thống công trình giao thông được bảo vệ: Bao gồm công trình đường bộ (đường, cầu, cống, hầm, vỉa hè đô thị, bến phà, bến xe, hệ thống thoát nước, cọc tiêu, biển báo và các thiết bị phụ trợ khác); công trình đường sông (luồng chạy tàu thuyền trên sông, hồ, kênh đào, ven vịnh, âu thuyền, kè, đập, cảng, bến, kho bãi, phao tiêu báo hiệu); và công trình đường sắt (đường, cầu, hầm, cống, nhà ga, kho bãi, hệ thống thông tin tín hiệu và các thiết bị phụ trợ khác).
- Phân loại đường giao thông: Đường bộ được chia thành quốc lộ, đường đô thị, đường tỉnh, đường huyện, đường xã và đường bộ chuyên dùng. Đường sông gồm đường sông trung ương, đường sông địa phương và đường sông chuyên dùng. Đường sắt gồm đường sắt quốc gia và đường sắt chuyên dùng.
- Phạm vi bảo vệ: Bao gồm bản thân công trình, hành lang bảo vệ công trình, phần trên không, phần dưới mặt đất và phần dưới mặt nước có liên quan trực tiếp đến an toàn công trình và an toàn cho hoạt động giao thông vận tải.
Chính sách quản lý, đầu tư và quy hoạch công trình
- Thống nhất quản lý và bảo đảm kinh phí: Nhà nước thống nhất quản lý về bảo vệ công trình giao thông không phân biệt nguồn vốn xây dựng. Kinh phí duy tu, sửa chữa và bảo vệ đối với công trình đầu tư bằng ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách do Nhà nước bảo đảm. Đối với công trình đầu tư bằng các nguồn vốn khác, chủ công trình phải tự bảo đảm kinh phí. Người sử dụng, khai thác công trình giao thông phải trả lệ phí theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu về quy hoạch và thiết kế: Quy hoạch cải tạo, mở rộng, nâng cấp các loại đường giao thông phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải được công khai cắm mốc chỉ giới. Việc thiết kế và thi công phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch, kế hoạch và luận chứng kinh tế - kỹ thuật đã được phê duyệt, bảo đảm chất lượng và an toàn kỹ thuật.
Quy định về khai thác, sử dụng và bảo vệ hành lang an toàn
- Cấp phép xây dựng và khai thác: Việc xây dựng công trình, sử dụng và khai thác khoảng không, vùng đất, vùng nước trong phạm vi bảo vệ công trình giao thông phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép. Các hoạt động ngoài phạm vi bảo vệ nhưng ảnh hưởng đến an toàn công trình hoặc an toàn giao thông cũng phải có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
- Nghiêm cấm lấn chiếm hành lang: Nghiêm cấm mọi hành vi lấn chiếm phạm vi bảo vệ công trình giao thông để xây dựng nhà ở, lều quán hoặc bất kỳ công trình nào khác. Trường hợp Nhà nước cần thu hồi đất để cải tạo, mở rộng công trình giao thông, chủ các công trình nằm trong hành lang bảo vệ (kể cả trường hợp đã được cấp phép trước đó) phải di dời kịp thời và được đền bù theo đúng quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm của đơn vị quản lý: Đơn vị quản lý công trình giao thông phải bảo đảm trạng thái an toàn kỹ thuật của công trình. Khi phát hiện hư hỏng, đe dọa an toàn giao thông phải kịp thời xử lý, sửa chữa; chủ động phòng chống thiên tai và chịu trách nhiệm liên đới nếu xảy ra tai nạn giao thông do chất lượng công trình không bảo đảm.
Các hành vi bị nghiêm cấm tuyệt đối
- Phá hủy, tháo gỡ hoặc trộm cắp cấu kiện, phụ kiện, vật tư, hệ thống thông tin tín hiệu và thiết bị báo hiệu hướng dẫn giao thông của công trình giao thông.
- Thải các chất độc hại làm hư hại, ảnh hưởng đến độ bền và tuổi thọ của công trình giao thông.
- Chứa hàng hóa, nguyên vật liệu, phế thải trái phép; rửa xe, họp chợ, thả rông gia súc trên đường giao thông; phơi rơm rạ, thóc lúa, nông sản trên các tuyến quốc lộ gây cản trở giao thông.
- Điều khiển phương tiện giao thông vượt quá tải trọng hoặc chạy quá tốc độ quy định gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
Các hoạt động phải được cơ quan thẩm quyền cho phép
Chỉ được tiến hành các hoạt động sau đây khi có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ công trình giao thông:
- Khoan, đào, xẻ đường giao thông; sử dụng chất nổ khai thác đá, cát, sỏi, đất gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
- Đặt đường ống cấp thoát nước, đường ống dẫn dầu khí, cáp điện, cáp thông tin và thiết bị chiếu sáng trong phạm vi bảo vệ công trình.
- Neo buộc, đậu đỗ phương tiện giao thông, bè mảng gây cản trở giao thông; đặt đăng đó, phương tiện nuôi trồng, đánh bắt thủy sản làm trở ngại luồng chạy tàu thuyền.
- Di chuyển vị trí, che lấp làm giảm hiệu lực hoặc tác dụng của hệ thống thông tin tín hiệu và thiết bị báo hiệu hướng dẫn giao thông.
- Mở đường ngang qua đường sắt, quốc lộ hoặc đường có dải phân cách; điều khiển xe cơ giới, xe bánh xích hoặc kéo vật nặng vượt qua đường sắt ở những nơi không cho phép.
- Dựng cổng chào, biển quảng cáo, khẩu hiệu trong phạm vi bảo vệ công trình giao thông.
- Vận hành xe bánh xích, xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn trên đường bộ hoặc tàu thủy quá khổ trên luồng đường sông hạn chế (phải có giấy phép sử dụng một lần hoặc có thời hạn).
Giải quyết sự cố và thanh thải chướng ngại vật
Khi xảy ra sự cố tạo ra vật chướng ngại gây cản trở giao thông trên đường bộ, đường sắt hoặc đường sông, chủ sở hữu vật chướng ngại phải báo ngay cho đơn vị quản lý công trình hoặc lực lượng cảnh sát giao thông gần nhất. Chủ sở hữu có trách nhiệm tự gỡ bỏ, thanh thải vật chướng ngại trong thời hạn quy định. Nếu quá thời hạn mà không thực hiện, đơn vị quản lý hoặc cảnh sát giao thông sẽ tiến hành xử lý và chủ sở hữu vật chướng ngại phải chịu toàn bộ chi phí phát sinh.
Hệ thống quản lý nhà nước và Thanh tra chuyên ngành
- Phân cấp quản lý: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ công trình giao thông trên phạm vi cả nước. Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ, khai thác hệ thống quốc lộ, đường sông trung ương và đường sắt quốc gia. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước và tổ chức bảo vệ các công trình giao thông được phân cấp tại địa phương.
- Nhiệm vụ của Thanh tra giao thông: Lực lượng thanh tra bảo vệ công trình giao thông do Bộ Giao thông vận tải tổ chức có nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật; lập biên bản và quyết định đình chỉ các hành vi vi phạm nghiêm trọng; giải quyết tranh chấp, khiếu nại theo thẩm quyền. Trong trường hợp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả nguy hiểm cho công trình, thanh tra viên có quyền dừng phương tiện giao thông và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó.
- Trang bị của Thanh tra: Lực lượng thanh tra được trang bị đồng phục, phù hiệu và các phương tiện kỹ thuật cần thiết để thực thi công vụ theo quy định của Chính phủ.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và điều khoản thi hành
- Khen thưởng và bồi thường: Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc được khen thưởng. Người tham gia đấu tranh chống vi phạm bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản sẽ được Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vi phạm: Người lấn chiếm đất hành lang an toàn hoặc phá hoại công trình giao thông sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ hậu quả, đồng thời phải bồi thường thiệt hại thực tế. Cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ để bao che vi phạm, cấp phép sai quy định hoặc thiếu trách nhiệm trong quản lý sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Hiệu lực thi hành: Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày ban hành (năm 1994). Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này và xử lý đối với các công trình, nhà ở đã tồn tại trong phạm vi bảo vệ trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 38-L/CTN | Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 1994 |
LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC SỐ 38L/CTN NGÀY 10 THÁNG 12 NĂM 1994(TRÍCH)
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào điều 103 và điều 106 của hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào điều 78 của luật tổ chức Quốc hội;
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá ix thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1994.
PHÁP LỆNH
BẢO VỆ CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
Để tăng cường quản lý Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ công trình giao thông, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đời sống nhân dân;
Căn cứ vào Điều 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Pháp lệnh này quy định về bảo vệ công trình giao thông.
Việc bảo vệ công trình giao thông hàng không dân dụng, công trình giao thông hàng hải do Luật hàng không dân dụng Việt Nam và Bộ luật hàng hải Việt Nam điều chỉnh.
Nhà nước bảo đảm kinh phí và các điều kiện cho việc duy tu, sửa chữa và bảo vệ công trình giao thông được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
Chủ của công trình giao thông được đầu tư xây dựng bằng các nguồn vốn khác phải tự bảo đảm kinh phí để duy tu, sửa chữa và bảo vệ công trình.
Tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động, cư trú trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ công trình giao thông.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tham gia giáo dục, động viên nhân dân và giám sát việc thi hành pháp luật về bảo vệ công trình giao thông.
Chính phủ quy định các loại công trình giao thông được thu lệ phí và mức lệ phí đối với từng loại công trình.
Mọi hành vi xâm phạm đến công trình giao thông phải được xử lý nghiêm minh.
Công trình giao thông được bảo vệ bao gồm:
Căn cứ việc phân cấp quản lý, các hệ thống đường giao thông được phân loại như sau:
1- Đường bộ: quốc lộ, đường đô thị, đường tỉnh, đường huyện, đường xã và đường bộ chuyên dùng;
2- Đường sông: đường sông trung ương, đường sông địa phương và đường sông chuyên dùng;
Ngoài phạm vi bảo vệ công trình giao thông, việc xây dựng và mọi hoạt động khác không được gây tác hại đến an toàn công trình.
Chính phủ quy định phạm vi bảo vệ công trình giao thông.
Việc xây dựng công trình, sử dụng và khai thác khoảng không, vùng đất, vùng nước ngoài phạm vi bảo vệ công trình giao thông nhưng ảnh hưởng đến an toàn công trình hoặc an toàn cho hoạt động giao thông vận tải trên công trình phải có ý kiến của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ công trình giao thông.
1- Việc quản lý, khai thác, sửa chữa và bảo vệ công trình giao thông phải tuân theo quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng cảnh sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ đơn vị quản lý công trình giao thông và lực lượng thanh tra về bảo vệ công trình giao thông trong việc bảo vệ các công trình giao thông.
Mọi hành vi vi phạm trong việc thực hiện quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trong việc giải quyết đền bù và giải phóng mặt bằng đều phải được xử lý nghiêm minh.
2- Trường hợp Nhà nước cần xây dựng cải tạo, mở rộng công trình giao thông thì chủ các công trình, nhà ở, lều quán đã xây dựng trong phạm vi hành lang bảo vệ công trình giao thông, kể cả trường hợp đã được phép xây dựng đều phải di chuyển kịp thời theo quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.
Việc đền bù được thực hiện theo quy định của pháp luật và bảo đảm đúng chính sách của Nhà nước.
3- Việc di chuyển chậm trễ hoặc cố tình trì hoãn việc di chuyển các công trình, nhà ở, lều quán quy định tại khoản 2 của Điều này gây trở ngại cho việc xây dựng, cải tạo, mở rộng công trình giao thông phải được xử lý nghiêm minh.
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1- Phá huỷ, tháo gỡ, trộm cắp cấu kiện, phụ kiện, vật tư, vật liệu xây dựng, hệ thống thông tin tín hiệu, thiết bị báo hiệu hướng dẫn giao thông của công trình giao thông;
2- Thải các chất độc hại làm hư hại, ảnh hưởng đến độ bền và tuổi thọ của công trình giao thông;
3- Chứa chất hàng hoá, nguyên vật liệu, phế thải; rửa xe, họp chợ, thả trâu bò, gia súc trên đường giao thông; phơi rơm rạ, thóc lúa, nông sản và các vật khác trên quốc lộ và những hành vi khác gây cản trở cho việc khai thác, sử dụng công trình giao thông;
4- Điều khiển tàu, xe vượt quá tải trọng hoặc chạy quá tốc độ quy định gây ảnh hưởng đến chất lượng của công trình giao thông.
1- Khoan, đào, xẻ đường giao thông;
2- Sử dụng chất nổ khai thác đá, cát, sỏi, đất gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình giao thông;
3- Đặt đường ống cấp nước, thoát nước, dẫn dầu khí; đặt cáp dẫn điện, cáp thông tin và thiết bị chiếu sáng trong phạm vi bảo vệ công trình giao thông;
4- Neo buộc, đậu, đỗ phương tiện giao thông, bè mảng gây cản trở cho việc khai thác và sử dụng công trình giao thông;
5- Di chuyển vị trí, che lấp làm giảm hiệu lực hoặc tác dụng của hệ thống thông tin tín hiệu và thiết bị báo hiệu hướng dẫn giao thông;
6- Mở đường ngang qua đường sắt, quốc lộ và đường có giải phân cách; điều khiển xe xơ giới, xe bánh xích hoặc kéo vật nặng vượt qua đường sắt ở nhưng nơi quy định không cho vượt qua;
7- Dựng công chào, biển quảng cáo, khẩu hiệu trong phạm vi bảo vệ công trình giao thông;
8- Đặt đăng đó, phương tiện nuôi, đánh bắt thuỷ sản làm trở ngại luồng chạy tầu thuyền;
9- Các hành vi khác gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình giao thông.
Trong trường hợp được phép tiến hành một trong những việc quy định tại Điều này, thì khi thực hiện phải có biện pháp bảo đảm an toàn giao thông; sau khi hoàn thành phải kịp thời khôi phục nguyên trạng và chất lượng của công trình giao thông. Đơn vị quản lý công trình giao thông có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc khôi phục nguyên trạng và chất lượng của công trình giao thông.
1- Xe bánh xích, xe có trọng tải lớn, xe có kích thước lớn hoạt động trên đường giao thông công cộng có cầu và đường bị hạn chế về tải trọng hoặc khổ giới hạn;
2- Tàu thuỷ có kích thước lớn hoạt động trên những tuyến đường sông có luồng chạy tàu thuyền hạn chế.
Giấy phép hoạt động của các phương tiện quy định tại Điều này được cấp để sử dụng một lần hoặc có thời hạn và theo những tuyến đường quy định.
Đơn vị quản lý công trình giao thông phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông và lực lượng kiểm soát quân sự tổ chức kiểm tra hoạt động của các loại phương tiện quy định tại điều này.
Việc bảo vệ công trình giao thông kết hợp làm công trình thuỷ lợi, đê điều hoặc công trình thuỷ lợi, để điều kết hợp làm công trình giao thông phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh này, Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi và Pháp lệnh về đê điều.
Việc bảo vệ công trình giao thông có liên quan đến các công trình khác thuộc kết cấu hạ tầng phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh này và các quy định pháp luật có liên quan.
1- Trong trường hợp có sự cố gây cản trở giao thông, chủ của vật chướng nhiều ngại nằm trong phạm vi luồng chạy tàu thuyền phải báo ngay cho đơn vị quản lý công trình giao thông nơi gần nhất, có biện pháp bảo đảm giao thông an toàn và có trách nhiệm gỡ bỏ và thanh thải vật chướng ngại đó theo thời hạn quy định của đơn vị quản lý công trình giao thông;
2- Trong trường hợp có sự cố gây cản trở giao thông, chủ của vật chướng ngại trên đường bộ, đường sắt phải bảo ngay cho đơn vị quản lý công trình giao thông, lực lượng cảnh sát giao thông nơi gần nhất và có trách nhiệm gỡ bỏ và thanh thải vật chướng ngại, không để gây trở ngại đến việc lưu thông tàu, xe.
3- Trong trường hợp vật chướng ngại không được gỡ bỏ và thanh thải đúng thời hạn quy định, đơn vị quản lý công trình giao thông hoặc lực lượng cảnh sát giao thông có trách nhiệm xử lý và chủ của vật chướng ngại phải chịu mọi phí tổn.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo vệ công trình giao thông trong phạm vi cả nước.
Việc quản lý Nhà nước về bảo vệ công trình giao thông đường sắt do Chính phủ quy định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Nội dung quản lý Nhà nước về bảo vệ công trình giao thông bao gồm:
1- Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng cải tạo, nâng cấp và sửa chữa công trình giao thông;
2- Xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy về bảo vệ công trình giao thông và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ công trình giao thông;
3- Tổ chức bộ máy quản lý, bảo vệ công trình giao thông;
Quy định tải trọng và kích thước giới hạn của các phương tiện giao thông vận tải có tải trọng và kích thước lớn được phép nhập khẩu vào Việt Nam;
7- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ công trình giao thông;
8- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, bảo vệ công trình giao thông; nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào lĩnh vực bảo vệ công trình giao thông;
9- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ công trình giao thông;
10- Giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo có liên quan đến việc bảo vệ công trình giao thông; xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ công trình giao thông theo thẩm quyền;
11- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ công trình giao thông.
Tổ chức hệ thống các đơn vị quản lý công trình giao thông được quy định như sau:
1- Bộ Giao thông vận tải quy định tổ chức các đơn vị quản lý công trình quốc lộ, đường sông trung ương và đường sắt quốc gia;
2- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tổ chức các đơn vị quản lý công trình đường đô thị, đường tỉnh, đường huyện, đường xã và đường sông địa phương theo sự hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải.
THANH TRA VỀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của thanh tra về bảo vệ công trình giao thông.
Bộ Giao thông vận tải tổ chức lực lượng thanh tra bảo vệ công trình đường bộ, đường sắt và đường sông.
1- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ công trình giao thông;
2- Lập biên bản các vi phạm pháp luật về bảo vệ công trình giao thông; quyết định tạm thời đình chỉ hoặc đình chỉ các vi phạm pháp luật nghiêm trọng về bảo vệ công trình giao thông;
3- Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ công trình giao thông;
4- Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo đối với các vi phạm pháp luật vệ bảo vệ công trình giao thông theo thẩm quyền;
Trong trường hợp cần thiết, để kịp thời ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra đối với công trình giao thông do hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ công trình giao thông, Thanh tra viên được phép dừng các phương tiện giao thông vận tải để có biện pháp xử lý theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên về bảo vệ công trình giao thông phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.
Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ công trình giao thông những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ công trình giao thông.
Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại và tố cáo của công dân và các quy định pháp luật có liên quan.
Những người đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ công trình giao thông mà bị thiệt hại về tài sản, sức khoẻ hoặc tính mạng thì được bồi thường theo quy định của pháp luật.
Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1Quyết định 932/QĐ-TTg năm 1998 về đầu tư dự án khôi phục và cải tạo quốc lộ 1A đoạn Quảng Ngãi – Nha Trang do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Quyết định 1255/2004/QĐ-BGTVT về việc thành lập Ban Tư vấn về công tác Quản lý và Bảo trì đường bộ Dự án Nâng cấp cải tạo mạng lưới đường bộ - WB4 do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 3Chỉ thị 236/1997/CT-BGTVT về phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường thuỷ nội địa do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 4Công văn số 330/TTg-CN về việc gia cố đường sắt khu vực đèo Hải Vân do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Quyết định 932/QĐ-TTg năm 1998 về đầu tư dự án khôi phục và cải tạo quốc lộ 1A đoạn Quảng Ngãi – Nha Trang do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Quyết định 1255/2004/QĐ-BGTVT về việc thành lập Ban Tư vấn về công tác Quản lý và Bảo trì đường bộ Dự án Nâng cấp cải tạo mạng lưới đường bộ - WB4 do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 3Hiến pháp năm 1992
- 4Chỉ thị 236/1997/CT-BGTVT về phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường thuỷ nội địa do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 5Nghị định 171/1999/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông đối với công trình giao thông đường sông
- 6Nghị định 172/1999/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông đối với công trình giao thông đường bộ
- 7Công văn số 330/TTg-CN về việc gia cố đường sắt khu vực đèo Hải Vân do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8Tiêu chuẩn ngành 22TCN 306:2003 về tiêu chuẩn kỹ thuật bảo dưỡng thường xuyên đường bộ do Bộ Giao thông vận tải ban hành
Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông năm 1994
- Số hiệu: 38-L/CTN
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 02/12/1994
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 10/12/1994
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
