TÓM TẮT PHÁP LỆNH LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM NĂM 2008
Pháp lệnh số 03/2008/UBTVQH12 về Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 01 tháng 01 năm 2008 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2008. Văn bản này thay thế Pháp lệnh năm 1998, thiết lập khuôn khổ pháp lý toàn diện về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và các điều kiện bảo đảm hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền, an ninh và thực thi pháp luật trên các vùng biển quốc gia.
1. Vị trí, chức năng và nguyên tắc hoạt động (Điều 1 - Điều 5)
- Chức năng chuyên trách: Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế có liên quan trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Bản chất và cơ chế lãnh đạo: Đây là lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước và sự quản lý thống nhất của Chính phủ. Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của lực lượng này.
- Phạm vi và phối hợp hoạt động: Lực lượng hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Cảnh sát biển có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo quy chế phối hợp do Chính phủ ban hành.
- Trách nhiệm của xã hội: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, cộng tác và giúp đỡ Cảnh sát biển thực hiện nhiệm vụ. Nhà nước bảo đảm giữ bí mật, bảo vệ khi có yêu cầu và thực hiện các chính sách ưu đãi theo quy định pháp luật cho người hỗ trợ.
- Tiêu chuẩn cán bộ, chiến sĩ: Phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và pháp luật cần thiết. Nghiêm cấm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể trên các vùng biển (Điều 6 - Điều 10)
Nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam được phân định rõ ràng theo từng vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia:
- Trong nội thủy, lãnh hải và vùng nước cảng biển: Tiến hành kiểm tra, kiểm soát để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép người, hàng hóa, vũ khí, chất nổ, chất ma túy và tiền chất.
- Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa: Tuần tra, kiểm soát để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán; bảo vệ tài nguyên, môi trường; đấu tranh chống buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, mua bán người và vận chuyển trái phép chất ma túy.
- Hợp tác quốc tế: Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, quyền hạn nhằm góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, hòa bình và ổn định trên các vùng biển.
- Tìm kiếm cứu nạn và ứng phó sự cố: Thu thập, tiếp nhận và xử lý thông tin kịp thời để thông báo cho các cơ quan chức năng; trực tiếp tham gia tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục sự cố trên biển và tổ chức ứng phó sự cố môi trường biển.
- Tuyên truyền pháp luật và phối hợp quốc phòng: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân hoạt động trên biển; phối hợp bảo vệ tài sản nhà nước, tính mạng và tài sản của người dân hoạt động hợp pháp; phối hợp với các đơn vị vũ trang khác bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các hải đảo và vùng biển.
3. Biện pháp công tác, quyền hạn xử lý và sử dụng vũ khí (Điều 11 - Điều 16)
- Quyền kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm: Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật, Cảnh sát biển có quyền kiểm tra, kiểm soát; xử lý vi phạm hành chính; buộc phương tiện vi phạm chấm dứt hành vi, rời khỏi vùng nước đang hoạt động hoặc rời khỏi vùng biển Việt Nam; bắt giữ người và phương tiện phạm pháp quả tang để xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển giao cơ quan chức năng.
- Quyền cưỡng chế và truy đuổi: Trường hợp đối tượng vi phạm không chấp hành hiệu lệnh, chống đối hoặc bỏ chạy, Cảnh sát biển có quyền cưỡng chế, thực hiện quyền truy đuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan.
- Huy động và trưng dụng tài sản (Điều 13):
- Trong tình thế cấp thiết (đuổi bắt tội phạm, cứu nạn, ứng phó sự cố môi trường), được quyền huy động người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam và phải hoàn trả ngay khi tình thế cấp thiết chấm dứt; nếu có thiệt hại phải bồi thường. Trường hợp cần thiết, có thể đề nghị người và phương tiện nước ngoài giúp đỡ.
- Vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, người có thẩm quyền của Cảnh sát biển được quyền trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức Việt Nam theo quy định pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản.
- Sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ: Được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ và các biện pháp nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ.
- Quy định nổ súng (Điều 15): Được nổ súng trong các trường hợp: đối tượng dùng vũ khí chống trả trực tiếp đe dọa tính mạng cán bộ, chiến sĩ hoặc an toàn phương tiện; truy đuổi đối tượng vi phạm nghiêm trọng cố tình tẩu thoát; bảo vệ tính mạng công dân. Khi nổ súng phải ra lệnh dừng lại hoặc bắn cảnh cáo trước (trừ trường hợp cấp bách); các vụ việc phức tạp ảnh hưởng đến an ninh quốc gia phải báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
- Hoạt động điều tra hình sự: Tiến hành hoạt động điều tra tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật về tổ chức điều tra hình sự.
4. Tổ chức lực lượng và chế độ phục vụ (Điều 17 - Điều 21)
- Thẩm quyền quy định tổ chức: Cơ cấu tổ chức và hoạt động do Chính phủ quy định; biên chế và trang bị cụ thể do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định.
- Thành phần nhân sự: Lực lượng bao gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công chức quốc phòng và công nhân quốc phòng.
- Chế độ nhân sự và phục vụ: Việc bổ nhiệm, cách chức, phong, thăng, giáng cấp bậc quân hàm và chế độ phục vụ được áp dụng tương tự như quy định đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và các quy định pháp luật liên quan.
- Nhận diện lực lượng: Cảnh sát biển có cờ hiệu, phù hiệu và trang phục riêng do Chính phủ quy định. Khi làm nhiệm vụ, tàu thuyền phải treo quốc kỳ và cờ hiệu Cảnh sát biển; cán bộ, chiến sĩ phải mặc đúng trang phục và mang phù hiệu quy định.
5. Quản lý nhà nước và bảo đảm điều kiện hoạt động (Điều 22 - Điều 30)
- Nội dung quản lý nhà nước: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức, chỉ huy lực lượng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thực hiện chế độ chính sách; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện hợp tác quốc tế.
- Trách nhiệm quản lý: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì thực hiện quản lý nhà nước, phối hợp với các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xây dựng, tổ chức hoạt động của lực lượng.
- Chính sách xây dựng lực lượng: Nhà nước đầu tư xây dựng Cảnh sát biển cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên ứng dụng khoa học công nghệ và trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại.
- Chế độ ưu đãi đặc thù (Điều 25): Cán bộ, chiến sĩ được hưởng các chế độ như Quân đội nhân dân và các phụ cấp đặc thù do Chính phủ quy định bao gồm: phụ cấp công tác lâu năm ở biên giới, hải đảo; phụ cấp trách nhiệm theo nghề đặc thù; phụ cấp đi biển.
- Tuyển chọn và đào tạo: Ưu tiên tuyển chọn công dân là sinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề có chuyên môn phù hợp. Cán bộ, chiến sĩ được đào tạo toàn diện về chính trị, chuyên môn, pháp luật.
- Nguồn kinh phí: Toàn bộ kinh phí tổ chức, xây dựng và hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 03/2008/PL-UBTVQH12 | Hà Nội, ngày 26 tháng 01 năm 2008 |
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Căn cứ Nghị quyết số 11/2007/QH12 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ khóa XII (2007 - 2011) và năm 2008;
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có trách nhiệm thực hiện, phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Quy chế phối hợp hoạt động, trách nhiệm cụ thể của các lực lượng do Chính phủ quy định.
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
1. Trong tình thế cấp thiết phải đuổi bắt người và phương tiện vi phạm pháp luật, cấp cứu người bị nạn, ứng phó với sự cố môi trường nghiêm trọng thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền huy động người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam, nhưng phải hoàn trả ngay khi tình thế cấp thiết chấm dứt; trường hợp có thiệt hại về tài sản thì phải bồi thường. Người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc bị chết thì được giải quyết theo chính sách của Nhà nước; trong trường hợp không có người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam để huy động hoặc đã huy động nhưng vẫn chưa giải quyết được tình thế cấp thiết, thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có thể đề nghị người nước ngoài, phương tiện của cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam giúp đỡ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, người có thẩm quyền trong lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức Việt Nam theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản.
1. Khi người vi phạm dùng vũ khí chống trả hoặc dùng biện pháp khác trực tiếp đe doạ tính mạng và an toàn phương tiện của Cảnh sát biển Việt Nam;
2. Khi truy đuổi người và phương tiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nếu không dùng vũ khí thì người và phương tiện đó có thể chạy thoát;
3. Để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng.
Trong các trường hợp được nổ súng quy định tại Điều này, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam chỉ được bắn vào đối tượng sau khi đã ra lệnh cho họ dừng lại hoặc nổ súng cảnh cáo mà không có kết quả, trừ trường hợp cấp bách; đối với những trường hợp phức tạp, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, an ninh quốc gia thì phải báo cấp có thẩm quyền quyết định.
TỔ CHỨC CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Điều 17. Tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam do Chính phủ quy định.
Biên chế, trang bị cụ thể của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
1. Đối với sĩ quan thực hiện theo Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
2. Đối với quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ thực hiện theo Luật nghĩa vụ quân sự;
3. Đối với công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Khi làm nhiệm vụ, tàu thuyền và các phương tiện khác của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam phải treo quốc kỳ và cờ hiệu Cảnh sát biển Việt Nam; cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển phải mặc trang phục và mang phù hiệu Cảnh sát biển Việt Nam.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Điều 22. Nội dung quản lý nhà nước đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam bao gồm:
1. Ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
2. Tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
3. Tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam;
4. Thực hiện chế độ, chính sách đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
6. Hợp tác quốc tế.
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
2. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về các hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ và tạo điều kiện để lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ.
5. Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
2. Nhà nước có chính sách, chế độ ưu đãi phù hợp với tính chất nhiệm vụ, phạm vi địa bàn hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam như sau:
a) Phụ cấp công tác lâu năm ở biên giới, hải đảo;
b) Phụ cấp trách nhiệm theo nghề đặc thù của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam;
c) Phụ cấp đi biển;
Chính phủ quy định cụ thể chế độ, chính sách ưu đãi đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
2. Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được ưu tiên tuyển chọn công dân quy định tại khoản 1 Điều này là sinh viên, học sinh tốt nghiệp ở học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề để bổ sung vào lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Điều 29. Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2008.
Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 28 tháng 3 năm 1998.
Điều 30. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
|
| TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI |
- 1Decree No. 96/2013/ND-CP of August 27, 2013, amending and supplementing a number of articles of the government’s Decree No. 86/2009/ND-CP detailing and guiding implementation of a number of articles of ordinance on the Vietnam coast guard
- 2Decree No. 86/2009/ND-CP of October 19, 2009, detailing and guiding a number of articles of the ordinance on The Vietnam Marine Police
- 3Resolution No. 11/2007/QH12 of November 21, 2007, on the National Assembly’s Law- and Ordinance-making programs for the XIIth tenure (2007-2011) and for 2008.
- 4Resolution no. 51/2001/NQ-QH10 of December 25, 2001 on amendments and supplements to a number of articles of the 1992 constitution of the socialist republic of Vietnam
- 51992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam
Ordinance No. 03/2008/UBTVQH12 of January 01, 2008, on the Vietnam Coast Guard.
- Số hiệu: 03/2008/UBTVQH12
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 26/01/2008
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/07/2008
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
