Nghị quyết về chính sách cải cách ruộng đất do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành (thông qua tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa I ngày 04 tháng 12 năm 1953) là văn kiện pháp lý lịch sử quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong việc xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và thiết lập quyền làm chủ của nông dân lao động.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của chính sách
Nghị quyết được áp dụng rộng rãi tại các vùng tự do và vùng giải phóng dưới sự kiểm soát của chính quyền cách mạng. Đối tượng chịu tác động trực tiếp bao gồm giai cấp địa chủ phong kiến (đối tượng bị tước đoạt hoặc trưng mua ruộng đất) và giai cấp nông dân lao động, đặc biệt là bần nông và cố nông (đối tượng được chia ruộng đất và bảo vệ quyền lợi).
Mục tiêu cốt lõi của cải cách ruộng đất
- Thủ tiêu hoàn toàn quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến thực dân, xóa bỏ ách bóc lột địa tô đã tồn tại lâu đời ở nông thôn Việt Nam.
- Thực hiện triệt để khẩu hiệu "người cày có ruộng", chuyển quyền sở hữu ruộng đất sang tay nông dân lao động một cách chính thức và hợp pháp.
- Giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khuyến khích nông dân tăng gia sản xuất, từ đó củng cố khối liên minh công nông và cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến kiến quốc.
Chính sách phân loại và xử lý đối với từng loại ruộng đất
- Tịch thu ruộng đất: Áp dụng đối với ruộng đất, trâu bò, nông cụ của thực dân Pháp, bọn đế quốc xâm lược và những đối tượng Việt gian phản quốc.
- Trưng thu ruộng đất: Áp dụng đối với ruộng đất của những địa chủ không trực tiếp canh tác hoặc ruộng đất thuộc sở hữu của các tổ chức tôn giáo, đền chùa (có chừa lại một phần thích đáng cho việc thờ cúng).
- Trưng mua ruộng đất: Áp dụng đối với một phần ruộng đất của địa chủ kháng chiến, địa chủ có công với cách mạng hoặc những địa chủ chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp của Chính phủ, nhằm bảo đảm sự phân hóa hợp lý và tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp tiến bộ.
- Bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp khác: Giữ nguyên quyền sở hữu ruộng đất của trung nông; bảo vệ kinh tế phú nông và các hoạt động sản xuất, kinh doanh công thương nghiệp hợp pháp ở nông thôn.
Nguyên tắc và phương thức phân chia ruộng đất
- Ruộng đất sau khi tịch thu, trưng thu, trưng mua được tập hợp vào quỹ đất chung của xã để tiến hành phân chia trực tiếp cho bần nông, cố nông và trung nông thiếu đất.
- Việc phân chia phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, dân chủ, công khai từ cơ sở, dựa trên nhu cầu thực tế và số nhân khẩu của từng hộ gia đình nông dân.
- Người nông dân sau khi được chia ruộng đất sẽ được chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất vĩnh viễn, có quyền canh tác, thừa kế và chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết có hiệu lực thi hành ngay sau khi được Quốc hội thông qua, tạo cơ sở pháp lý tối cao cho việc triển khai phong trào cải cách ruộng đất trên toàn quốc, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ dân chủ trong cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 1955 |
NGHỊ QUYẾT
CỦA QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ NGÀY 26 THÁNG 3 NĂM 1955 VỀ CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Sau khi nghe báo cáo của Chính phủ,
Sau khi nghe Tiểu ban cải cách ruộng đất thuyết trình và các vị đại biểu Quốc hội tham luận,
Quốc hội quyết nghị:
1- Tán dương những thành tích đấu tranh của nông dân và sự cố gắng của cán bộ trong các đợt phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất vừa qua.
2- Tán thành các điểm bổ sung về chính sách cải cách ruộng đất, mà Chính phủ đã đề ra trong khoá họp này.
3- Kêu gọi nông dân và tất cả các tầng lớp nhân dân ủng hộ chính sách cải cách ruộng đất của Chính phủ mà Quốc hội đã thông qua.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 26 tháng 3 năm 1955.
| Dương Đức Hiền (Đã ký) |
Nghị quyết về chính sách cải cách ruộng đất do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: Khôngsố
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 26/03/1955
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Dương Đức Hiền
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/04/1955
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
