Điều lệ số 599-TTg do Phủ Thủ tướng ban hành (ký bởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng) là văn bản pháp lý quan trọng quy định chi tiết về chính sách và phương thức tiến hành cải cách ruộng đất tại các vùng ngoại thành và những khu vực dự kiến thiết lập thành phố, khu công thương nghiệp. Văn bản này thiết lập các nguyên tắc phân loại đối tượng, xử lý tài sản, phân chia ruộng đất và quản lý quỹ đất công ích nhằm bảo đảm công bằng xã hội, ổn định sản xuất nông nghiệp và phục vụ quy hoạch phát triển đô thị, công nghiệp trong tương lai.
Phạm vi áp dụng và bảo vệ cảnh quan di tích
- Phạm vi thi hành: Áp dụng tại các vùng ngoại thành và khu vực định kiến thiết thành phố hoặc khu công thương nghiệp. Uỷ ban hành chính khu hoặc thành phố có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất phạm vi cụ thể để trình Chính phủ duyệt y.
- Bảo vệ danh lam thắng cảnh: Tất cả các khu vực danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử tại ngoại thành đều được bảo vệ nghiêm ngặt, không được xâm phạm trong quá trình cải cách ruộng đất.
- Xử lý lăng tẩm địa chủ: Lăng tẩm thuộc gia đình địa chủ được giữ nguyên, không bị xâm phạm. Phần ruộng đất nằm trong phạm vi lăng tẩm không đem chia cho nông dân nhưng có thể giao cho nông dân sử dụng canh tác để tránh bỏ hoang.
Chính sách xử lý tài sản và ruộng đất của địa chủ
- Đối với nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến và địa chủ thường: Thực hiện trưng mua toàn bộ ruộng đất, trâu bò, nông cụ, nhà cửa thừa ở nông thôn và lương thực thừa. Các tài sản khác ở nông thôn, nhà cửa ở thành phố, tư liệu sản xuất, tài sản dùng vào kinh doanh công thương nghiệp, súc vật và tư liệu chăn nuôi của họ được bảo vệ, không đụng tới.
- Đối với địa chủ di cư vào Nam: Ruộng đất của họ không coi là ruộng đất vắng chủ. Tùy trường hợp cụ thể, ruộng đất, trâu bò, nông cụ của họ sẽ bị tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua tương tự như các địa chủ khác. Tài sản công thương nghiệp của họ nếu chưa có người trông nom sẽ do chính quyền địa phương tạm thời quản lý cho đến khi họ trở về.
- Xử lý ruộng đất phân tán trái phép: Ruộng đất địa chủ phân tán từ ngày 14/07/1949 đến ngày 20/07/1954 được xử lý theo Luật Cải cách ruộng đất. Mọi hành vi phân tán ruộng đất từ sau ngày 20/07/1954 đều bị coi là trái phép; số ruộng đất này sẽ bị tịch thu, và địa chủ có nghĩa vụ bồi thường cho người đã mua.
- Thời gian tính thoái tô: Thời gian thoái tô đối với địa chủ ở vùng ngoại thành được tính từ ngày hòa bình lập lại (ngày 20/07/1954), khác với mốc năm 1953 của các vùng nông thôn mới giải phóng khác.
- Chia ruộng đất cho địa chủ: Địa chủ không có nguồn thu nhập khác hoặc thu nhập quá ít không đủ sống sẽ được chia một phần ruộng đất tương đương phần của nông dân để canh tác. Những gia đình địa chủ đã có nghề nghiệp khác bảo đảm cuộc sống thì không được chia ruộng đất.
Chính sách đối với nhà công thương nghiệp và các tầng lớp khác
- Đối với ruộng đất, tài sản của nhà công thương nghiệp và người lao động thành thị: Trưng mua đối với ruộng đất phát canh, ruộng đất thuê người làm, trâu bò và nông cụ cho thuê dùng vào nông nghiệp. Nếu ruộng đất phát canh của nhà công thương nghiệp chưa giảm tô thì bắt buộc phải thực hiện thoái tô.
- Bảo hộ công thương nghiệp tư nhân: Nhà xưởng, kho tàng và các tư liệu phục vụ kinh doanh công thương nghiệp của tư nhân được bảo hộ, không bị xâm phạm. Các khoản nợ vay mượn lẫn nhau giữa địa chủ và người làm công thương nghiệp cũng được giữ nguyên, không đụng tới.
- Chính sách đối với quân nhân, liệt sĩ, cán bộ, công chức: Gia đình quân nhân cách mạng, liệt sĩ, cán bộ, công nhân, viên chức, người làm nghề tự do, người buôn bán nhỏ phải phát canh một số ít ruộng đất do bận việc hoặc thiếu sức lao động thì không bị coi là địa chủ. Trường hợp địa phương thiếu đất và những đối tượng này đã có nghề nghiệp đủ sống, chính quyền sẽ thương lượng để trưng mua một phần hoặc toàn bộ ruộng đất của họ; không áp dụng chính sách thoái tô đối với nhóm đối tượng này.
Nguyên tắc phân chia và quản lý ruộng đất, tài sản
- Chế độ sở hữu đất ngoại thành quy hoạch: Toàn bộ ruộng đất ngoại thành bị tịch thu, trưng thu, trưng mua nằm trong diện quy hoạch mở rộng thành phố hoặc kiến thiết công thương nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước. Nhà nước không chia hẳn quyền sở hữu cho nông dân mà chỉ giao quyền sử dụng để cày cấy. Người được giao đất không được phép cầm cố, bán hoặc bỏ hoang đất. Khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng, người bị thu hồi sẽ được bố trí việc làm mới, bù đất ở nơi khác hoặc bồi thường thỏa đáng.
- Phương thức chia đất canh tác: Việc chia đất dựa trên các quy định của Luật Cải cách ruộng đất. Thành viên gia đình nông dân đã có nghề nghiệp ổn định không được tính vào diện chia đất. Công nhân thất nghiệp có hoàn cảnh khó khăn và có khả năng lao động nông nghiệp, nếu có nguyện vọng, sẽ được xem xét chia một phần đất canh tác tùy theo quỹ đất địa phương.
- Phân chia tư liệu sản xuất và nhà ở: Trâu bò, nông cụ, lương thực tịch thu hoặc trưng mua được chia hẳn cho nông dân nghèo thiếu tư liệu sản xuất để họ làm chủ sở hữu. Nhà cửa tịch thu được (trừ biệt thự lớn, công trình kiến trúc lớn hoặc nhà do Chính phủ trưng dụng) cũng được chia hẳn cho nông dân.
- Quản lý ao hồ và đất hoang: Các ao hồ tịch thu, trưng thu, trưng mua thuộc sở hữu nhà nước, giao cho thành phố hoặc xã quản lý tùy quy mô. Việc sử dụng ao hồ làm nơi vui chơi, bơi lội phải tuân thủ hướng dẫn của Uỷ ban hành chính cấp thành phố hoặc cấp khu. Đất hoang có khả năng canh tác không thuộc diện danh lam thắng cảnh và không cản trở quy hoạch đô thị có thể được chia cho nông dân thiếu đất canh tác; người khai hoang được miễn thuế nông nghiệp trong vòng 03 năm.
Thủ tục pháp lý và tổ chức thực hiện
- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và sở hữu: Uỷ ban hành chính thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nhà nước cho nông dân được giao đất quy hoạch, và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất cho người có ruộng đất riêng hoặc được chia đất hẳn. Tất cả các khế ước cũ đều bị hủy bỏ.
- Thành lập Uỷ ban cải cách ruộng đất: Uỷ ban hành chính thành phố thành lập Uỷ ban cải cách ruộng đất để hỗ trợ chỉ đạo trực tiếp công tác cải cách tại ngoại thành.
- Thẩm quyền ban hành quy định chi tiết: Uỷ ban hành chính các thành phố căn cứ vào tình hình thực tế, Luật Cải cách ruộng đất và Điều lệ này để ban hành các quy định chi tiết, nhưng phải được chính quyền cấp trên phê duyệt trước khi thi hành. Các vấn đề phát sinh khác không quy định trong Điều lệ này sẽ được giải quyết theo nguyên tắc chung của Luật Cải cách ruộng đất.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT |
| Số: 599-TTg | Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 1955 |
ĐIỀU LỆ
CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở NGOẠI THÀNH
Căn cứ vào những điều căn bản đã quy định trong luật cải cách ruộng đất ngày 4 tháng 12 năm 1953 ban hành do sắc lệnh số 197- SL ngày 10 tháng 12 năm 1953 và căn cứ vào đặc điểm tình hình của các vùng ngoại thành; để giải phóng nông dân, phát triển sản xuất nông nghiệp ở các vùng ngoại thành; để việc cải cách ruộng đất ở các vùng ngoại thành hợp với nhu cầu kiến thiết thành phố, phát triển công thương nghiệp, nay ban hành bản điều lệ này:
Điều 1: - Bản điều lệ này sẽ thi hành khi cải cách ruộng đất ở những vùng ngoại thành và những vùng định kiến thiết thành phố hay khu công thương nghiệp. Phạm vi ngoại thành được thi hành bản điều lệ này do Uỷ ban hành chính khu, hoặc thành phố nghiên cứu và đề nghị Chính phủ duyệt y.
Điều 2: - Đối với nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường thì trưng mua toàn bộ ruộng đất, trâu bò, nông cụ, nhà cửa thừa ở nông thôn và lương thực thừa.
Tài sản khác của họ ở nông thôn, nhà cửa của họ ở thành phố, những tư liệu sản xuất và tài sản của họ dùng vào kinh doanh công thương nghiệp, súc vật chăn nuôi hoặc tư liệu dùng vào nghề chăn nuôi đều không đụng tới.
Điều 3: - Những nơi danh lam thắng cảnh di tích lịch sử đều được bảo vệ.
Điều 4: - Lăng tẩm của gia đình địa chủ thì không xâm phạm tới; ruộng đất trong phạm vi lăng tẩm không chia cho nông dân nhưng tuỳ theo trường hợp cụ thể, có thể giao cho nông dân sử dụng để khỏi phải bỏ hoang.
Điều 5: - Ruộng đất của địa chủ đi Nam thì không coi là ruộng đất vắng chủ; việc xử trí đối với những ruộng đất, trâu bò, nông cụ của địa chủ đi Nam thì sẽ tuỳ từng trường hợp cụ thể mà tịch thu, trưng thu, trưng mua cũng như đối với ruộng đất, trâu bò, nông cụ của những địa chủ khác. Tài sản công thương nghiệp của họ, nếu chưa có người trông nom thì chính quyền địa phương sẽ quản lý cho đến khi nào họ trở về.
Điều 6: - Đối với ruộng đất phân tán của địa chủ từ ngày ban hành sắc lệnh giảm tô (14 tháng 7 năm 1949) cho đến ngày 20 tháng 7 năm 1954 thì căn cứ vào điều 5, mục 3, chương II luật cải cách ruộng đất mà xử trí.
Kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 những việc phân tán ruộng đất của địa chủ đều coi là trái phép. Việc xử trí đối với số ruộng đất phân tán trái phép, sẽ căn cứ vào điều 6 mục 3 chương II luật cải cách ruộng đất mà thi hành. Số ruộng đất đó sẽ bị tịch thu và địa chủ sẽ phải bồi thường cho những người đã mua ruộng đất phân tán.
Điều 7: - Thời gian thoái tô tính từ ngày hoà bình được lập lại, tức là ngày 20 tháng 7 năm 1954 chứ không tính từ 1953 như những vùng nông thôn mới giải phóng khác.
Điều 8: - Đối với ruộng đất, nhà cửa, trâu bò, nông cụ ở nông thôn của các nhà công thương nghiệp và các tầng lớp lao động khác sống ở thành thị thì xử trí như sau:
a) Đối với ruộng đất phát canh hoặc thuê người làm, trâu bò, nông cụ cho thuê và dùng vào nông nghiệp thì trưng mua.
b) Ruộng đất của các nhà công thương nghiệp cho phát canh nếu chưa giảm tô thì phải thoái tô.
c) Gia đình quân nhân cách mạng, liệt sĩ, cán bộ, công nhân, viên chức, người làm nghề tự do, người buôn bán nhỏ, vì bận làm nghề khác hoặc vì thiếu sức lao động, phải phát canh một số ít ruộng đất, đều không coi là địa chủ. Nhưng nếu địa phương đó thiếu ruộng đất, mà những người này đã có nghề khác đủ sống, thì trên cơ sở thương lượng thõa thuận sẽ trưng mua một phần hoặc tất cả ruộng đất của họ. Vấn đề thoái tô đối với những người này không đề ra.
d) Xưởng tư nhân, kho tàng, các tư liệu dùng vào việc kinh doanh công thương nghiệp đều được bảo hộ, không đụng tới.
e) Những món nợ giữa địa chủ và người công thương nghiệp cho vay lẫn nhau đều không đụng tới.
Điều 9: - Tất cả những ruộng đất ở ngoại thành đã tịch thu, trung thu, trung mua thuộc phạm vi sẽ mở rộng thành phố hoặc kiến thiết công thương nghiệp đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Những ruộng đất này không chia hẳn cho nông dân, mà chỉ chia cho để sử dụng cày cấy. Số ruộng đó người được chia không được cầm, bán, hoặc bỏ hoang.
Khi nào Nhà nước cần lấy ruộng đất để kiến thiết thành phố thì Nhà nước sẽ thu xếp công ăn việc làm cho những người có đất hay bị lấy, hoặc bù cho một số ruộng đất ở nơi khác, và sẽ bồi thường cho họ một cách thích đáng về những ruộng đất bị lấy.
Điều 10: - Cách chia ruộng đất để sử dụng cũng sẽ căn cứ vào các điều 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 chương II luật cải cách ruộng đất mà thi hành.
Trong gia đình nông dân, nếu người nào đã có một nghề nghiệp ổn định thì không tính vào số nhân khẩu được chia ruộng đất.
Đối với công nhân thất nghiệp, dầu nghèo hiện đời sống khó khăn, có khả năng làm rưộng, nếu họ yêu cầu chia ruộng đất, thì sẽ căn cứ vào điều kiện ruộng đất ở địa phương mà chia cho họ một phần để cày cấy.
Điều 11: - Tất cả những tư liệu sản xuất, như trâu bò, nông cụ, lương thực, tịch thu, trưng thu, trung mua được sẽ đem chia hẳn cho nông dân nghèo hiện thiếu tư liệu sản xuất trên nguyên tắc công bằng hợp lý và thuộc quyền sở hữu của người được chia.
Tất cả những nhà cửa đã tịch thu, trung thu, trưng mua được, trừ những công trình kiến trúc lớn, những biệt thự lớn, những nhà mà Chính phủ cần dùng, còn lại bao nhiêu đều đem chia hẳn cho nông dân và thuộc quyền sở hữu của người được chia.
Điều 12: - Đối với địa chủ không có nguồn thu hoạch khác hoặc nguồn thu hoạch khác rất ít, không đủ sống thì sẽ chia cho những nhân khẩu của gia đình họ ở nông thôn một phần ruộng đất tương đương với phần được chia của nông dân để sử dụng cày cấy. Gia đình địa chủ đã có nghề khác làm nguồn sống thì không được chia.
Điều 13: - Hồ lớn, nhỏ, tịch thu, trưng thu, trưng mua được đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Sẽ tùy theo vị trí và diện tích của các hồ đó mà để thành phố quản lý hay giao cho các xã quản lý. Về việc sử dụng những hồ có thể xây dựng làm nơi chơi mát hoặc bơi lội thì phải theo sự hướng dẫn và quy định của Uỷ ban hành chính thành phố hoặc Uỷ ban hành chính khu.
Điều 14: - Đối với tất cả ruộng đất hoang có thể cày cấy được ở ngoại thành không phải là những nơi danh lam thắng cảnh, trong điều kiện không trở ngại đến việc kiến thiết thành phố, thì sau khi được Uỷ ban hành chính thành phố đồng ý có thể chia cho nông dân không có ruộng đất hoặc có ít ruộng đất sử dụng cày cấy.
Người khai thác trồng trọt ruộng đất hoang này được miễn thuế nông nghiệp trong ba năm.
Điều 15: - Sau khi cải cách ruộng đất, đối với những nông dân được chia ruộng đất của Nhà nước. Uỷ ban hành chính thành phố sẽ phát giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất của Nhà nước, và đảm bảo cho họ quyền sử dụng ruộng đất ấy.
Đối với những người có ruộng đất riêng và những người được chia hẳn ruộng đất thì Uỷ ban hành chính thành phố phát giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất và đảm bảo cho họ quyền sở hữu ruộng đất ấy. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ.
Điều 16: - Để tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác cải cách ruộng đất ở ngoại thành, căn cứ vào điều 32 của luật cải cách ruộng đất , Uỷ ban hành chính thành phố sẽ tổ chức ra Uỷ ban cải cách ruộng đất để giúp Uỷ ban hành chính lãnh đạo cải cách ruộng đất ở ngoại thành.
Điều 17: - Uỷ ban hành chính các thành phố căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, căn cứ vào luật cải cách ruộng đất và các nguyên tắc trong bản điều lệ này mà quy định thêm về những điểm cụ thể. Những điều quy định này phải được chính quyền cấp trên duyệt y trước khi thi hành.
Điều 18: - Ngoài những vấn đề được quy định riêng trong bản điều lệ này, những vấn khác sẽ giải quyết theo những nguyên tắc chung của luật cải cách ruộng đất.
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Điều lệ số 599-TTg về cải cách ruộng đất ở ngoại thành do Phủ Thủ Tướng ban hành
- Số hiệu: 599-TTg
- Loại văn bản: Văn bản khác
- Ngày ban hành: 09/10/1955
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 18
- Ngày hiệu lực: 25/10/1955
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
