Nghị quyết 186/NQ-HĐND năm 2022 của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Gia Lai được ban hành nhằm đánh giá kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến các kỳ họp HĐND tỉnh khóa XI, Kỳ họp thứ Sáu và các kỳ họp trước của HĐND tỉnh khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thể hiện vai trò giám sát tối cao của HĐND tỉnh đối với hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh và các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
- Kết quả đạt được trong công tác giải quyết kiến nghị của cử tri
HĐND tỉnh Gia Lai ghi nhận sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm của UBND tỉnh và Công ty Điện lực Gia Lai trong việc tập trung giải quyết 57 ý kiến, kiến nghị của cử tri. Kết quả cụ thể được phân định rõ ràng như sau:
- Đối với các kiến nghị tại Nghị quyết số 140/NQ-HĐND ngày 08/07/2022: Đã giải quyết xong 06 trên tổng số 12 kiến nghị (đạt tỷ lệ 50%); đang trong quá trình giải quyết 04 kiến nghị (chiếm tỷ lệ 33,3%); còn lại 02 kiến nghị chưa được giải quyết (chiếm tỷ lệ 16,7%).
- Đối với các kiến nghị gửi đến Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII:
- Về phía UBND tỉnh: Đã giải quyết dứt điểm 40 trên tổng số 44 kiến nghị (đạt tỷ lệ cao là 90,9%); đang tiến hành giải quyết 01 kiến nghị (chiếm 2,3%); chưa giải quyết 03 kiến nghị (chiếm 6,8%).
- Về phía Công ty Điện lực tỉnh: Đã hoàn thành giải quyết xong 01 trên tổng số 01 kiến nghị được giao (đạt tỷ lệ 100%).
- Về công tác giám sát: Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND tỉnh đã thực hiện nghiêm túc vai trò giám sát theo đúng trình tự, thủ tục luật định, đảm bảo tính khách quan và hiệu quả thực tế.
- Những tồn tại, hạn chế cần khắc phục
Bên cạnh những kết quả tích cực, HĐND tỉnh cũng thẳng thắn chỉ ra những điểm còn hạn chế trong công tác quản lý và thực thi:
- UBND tỉnh chưa chủ động xây dựng kế hoạch chi tiết, chưa xác định rõ lộ trình cụ thể và chưa phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng cơ quan chuyên môn trong việc giải quyết kiến nghị của cử tri.
- Công tác kiểm tra, đôn đốc của các cơ quan chức năng liên quan có lúc còn chậm trễ, thiếu sâu sát thực tế, dẫn đến tình trạng một số kiến nghị bị kéo dài hoặc chưa được giải quyết dứt điểm (cụ thể còn tồn đọng 06 kiến nghị tại Nghị quyết 140/NQ-HĐND và 04 kiến nghị tại Kỳ họp thứ Sáu).
- Trách nhiệm và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết kiến nghị trong thời gian tới
Để nâng cao chất lượng giải quyết các kiến nghị chưa dứt điểm, HĐND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
- Đối với UBND tỉnh, các sở, ngành và UBND các địa phương: Các huyện Chư Pưh, Đak Pơ, Kbang, Mang Yang, Ia Grai, Phú Thiện, Chư Sê và thành phố Pleiku phải nghiêm túc kiểm điểm, khắc phục các hạn chế đã nêu. UBND tỉnh cần đổi mới phương pháp làm việc, rà soát toàn bộ các kiến nghị chưa giải quyết để xây dựng kế hoạch, lộ trình và thời hạn hoàn thành cụ thể cho từng vụ việc.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra: Đẩy mạnh công tác chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan chuyên môn và địa phương, tránh tình trạng đùn đẩy, kéo dài gây bức xúc trong nhân dân.
- Xử lý các kiến nghị vượt thẩm quyền: Đối với các nội dung liên quan đến thẩm quyền của Chính phủ hoặc các bộ, ngành Trung ương, UBND tỉnh phải kịp thời có văn bản kiến nghị hướng dẫn, giải quyết, đồng thời thông báo cho Thường trực HĐND tỉnh và các Tổ đại biểu để thông tin lại cho cử tri được biết.
- Chế độ báo cáo: UBND tỉnh có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo kết quả giải quyết đối với 10 ý kiến, kiến nghị còn tồn đọng tại kỳ họp thường lệ giữa năm 2023 của HĐND tỉnh khóa XII.
- Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
- Trách nhiệm triển khai: Giao UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện toàn diện các nội dung của Nghị quyết này.
- Trách nhiệm giám sát: Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai và các tổ chức thành viên có trách nhiệm giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện Nghị quyết.
- Hiệu lực thi hành: Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Gia Lai khóa XII, Kỳ họp thứ Chín thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2022 và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | |
| Số: 186/NQ-HĐND | Gia Lai, ngày 09 tháng 12 năm 2022 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ KẾT QUẢ GIÁM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC Ý KIẾN, KIẾN NGHỊ CỦA CỬ TRI GỬI ĐẾN CÁC KỲ HỌP HĐND TỈNH KHÓA XI; KỲ HỌP THỨ SÁU VÀ CÁC KỲ HỌP TRƯỚC CỦA HĐND TỈNH KHÓA XII CHƯA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT HOẶC GIẢI QUYẾT CHƯA DỨT ĐIỂM
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ CHÍN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND ngày 20 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Chương trình số 113/CTr-HĐND ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Thường trực HĐND tỉnh về chương trình giám sát năm 2022; trên cơ sở Báo cáo số 72/BC-HĐND ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Thường trực HĐND tỉnh về kết quả giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm; Báo cáo số 73/BC-HĐND ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Thường trực HĐND tỉnh về kết quả giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 140/NQ-HĐND ngày 08 tháng 7 năm 2022 của HĐND tỉnh về việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến các Kỳ họp HĐND tỉnh khóa XI; Kỳ họp thứ Tư và các kỳ họp trước của HĐND tỉnh khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm; ý kiến thảo luận của đại biểu HĐND tỉnh tại Kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. HĐND tỉnh tán thành với Báo cáo số 72/BC-HĐND ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Thường trực HĐND tỉnh về kết quả giám sát việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm; Báo cáo số 73/BC-HĐND ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Thường trực HĐND tỉnh về kết quả giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 140/NQ-HĐND ngày 08 tháng 7 năm 2022 của HĐND tỉnh về việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến các Kỳ họp HĐND tỉnh khóa XI; Kỳ họp thứ Tư và các kỳ họp trước của HĐND tỉnh khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm và nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:
1. Về kết quả đạt được
HĐND tỉnh ghi nhận công tác chỉ đạo và giải quyết các ý kiến, kiến nghị cử tri đối với UBND tỉnh, Công ty Điện lực Gia Lai; theo đó, tập trung giải quyết 57 ý kiến, kiến nghị của cử tri đã gửi đến các kỳ họp HĐND tỉnh khóa XI; Kỳ họp thứ Sáu và các kỳ họp trước của HĐND tỉnh khóa XII đúng quy định. Một số kiến nghị từ các kỳ họp trước chưa giải quyết xong đến nay đã được giải quyết dứt điểm, cơ bản đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của cử tri. Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh đã đề cao vai trò, trách nhiệm, thực hiện giám sát đúng trình tự, đảm bảo quy trình việc giải quyết kiến nghị cử tri của UBND tỉnh, cơ quan hữu quan, cụ thể:
1.1. Kiến nghị tại Nghị quyết 140/NQ-HĐND ngày 08/7/2022 của HĐND tỉnh
- Kiến nghị đã giải quyết xong: 06/12 kiến nghị (chiếm tỷ lệ 50%).
- Kiến nghị đang giải quyết: 04/12 kiến nghị (chiếm tỷ lệ 33,3%).
- Kiến nghị chưa giải quyết: 02/12 kiến nghị (chiếm tỷ lệ 16,7%).
1.2. Kiến nghị tại Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII
1.2.1. Đối với UBND tỉnh
- Kiến nghị đã giải quyết xong: 40/44 kiến nghị (chiếm tỷ lệ 90,9%).
- Kiến nghị đang giải quyết: 01/44 kiến nghị (chiếm tỷ lệ 2,3%).
- Kiến nghị chưa giải quyết: 03/44 kiến nghị (chiếm tỷ lệ 6,8%).
1.2.2. Đối với Công ty Điện lực tỉnh: Kiến nghị đã giải quyết xong 01/01 kiến nghị (đạt 100%).
2. Về tồn tại, hạn chế
UBND tỉnh chưa xây dựng kế hoạch, xác định lộ trình, giao trách nhiệm cho các cơ quan chuyên môn giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri; việc kiểm tra, đôn đốc của các cơ quan chức năng liên quan đến việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri có lúc, có việc còn chậm và chưa sâu sát nên dẫn đến việc giải quyết kéo dài hoặc giải quyết chưa dứt điểm (còn 06 kiến nghị tại Nghị quyết 140/NQ-HĐND ngày 08/7/2022 của HĐND tỉnh, 04 kiến nghị gửi đến Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII đang giải quyết và chưa được giải quyết xong).
3. Trách nhiệm của UBND tỉnh, các cơ quan hữu quan và các địa phương trong việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri (những kiến nghị chưa giải quyết, giải quyết chưa dứt điểm)
- UBND tỉnh, các sở, ngành có liên quan và UBND các huyện: Chư Pưh, Đak Pơ, Kbang, Mang Yang, Ia Grai, Phú Thiện, Chư Sê và thành phố Pleiku xem xét khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên. Đồng thời, để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết kiến nghị của cử tri, HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo, giải quyết có kết quả các nội dung kiến nghị của cử tri đang giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm thuộc thẩm quyền. Đổi mới phương pháp giải quyết kiến nghị cử tri, rà soát toàn bộ nội dung các kiến nghị của cử tri đang giải quyết, chưa giải quyết; xây dựng kế hoạch, lộ trình và thời hạn giải quyết cụ thể đối với từng kiến nghị của cử tri. Tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đối với các cơ quan chuyên môn, địa phương trong việc giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri; nâng cao trách nhiệm, chất lượng giải quyết kiến nghị của cử tri, đảm bảo đúng quy định, kịp thời, tránh tồn đọng, kéo dài.
- Đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri liên quan cần phải có ý kiến của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, đề nghị UBND tỉnh kịp thời có văn bản kiến nghị để xem xét giải quyết; đồng thời, báo cáo cho Thường trực HĐND tỉnh, các Tổ đại biểu HĐND tỉnh được biết để trả lời cho cử tri.
- UBND tỉnh báo cáo kết quả giải quyết 10 ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thường lệ giữa năm 2023, HĐND tỉnh khóa XII (kèm theo phụ lục).
Điều 2. Giao UBND tỉnh tổ chức triển khai, thực hiện Nghị quyết này. Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND tỉnh, Ủy ban MTTQVN tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh khóa XII, Kỳ họp thứ Chín thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2022 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.
|
| CHỦ TỊCH |
PHỤ LỤC
(Kèm theo Nghị quyết số 186/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của HĐND tỉnh)
| STT | NỘI DUNG KIẾN NGHỊ | GHI CHÚ |
| 1 | Đề nghị UBND tỉnh thu hồi đất của các Công ty đang thực hiện các dự án trên địa bàn huyện Chư Pưh nhưng hoạt động không hiệu quả, sử dụng đất không đúng mục đích và có phương án thu hồi giao lại đất cho dân sử dụng (Cử tri huyện Chư Pưh). | Kỳ họp thứ Mười ba, HĐND tỉnh khóa XI |
| 2 | UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì hoàn chỉnh nội dung hồ sơ, đề xuất UBND tỉnh về việc mở rộng khuôn viên Trạm Y tế phường Hoa Lư, nhằm đạt chuẩn Quốc gia. Tuy nhiên đã nhiều năm nhưng Trạm Y tế phường vẫn chưa được mở rộng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Do đó, đề nghị UBND tỉnh xem xét, giải quyết (Cử tri thành phố Pleiku). | Kỳ họp thứ Hai, HĐND tỉnh khóa XII |
| 3 | Đề nghị tỉnh sớm bàn giao Trạm Y tế (cũ) ở xã Tân An, huyện Đak Pơ về cho địa phương để thực hiện việc sửa chữa nhà làm việc cho Công an xã (Cử tri huyện Đăk Pơ). | Kỳ họp thứ Tư, HĐND tỉnh khóa XII. |
| 4 | Hiện nay theo Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND ngày 26/4/2019 của UBND tỉnh về việc ban hành Bộ đơn giá sản phẩm: Đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Gia Lai (trong đó kinh phí để thực hiện đo đạc, xuất trích lục khá cao: Như đo đạc từ 1.000m2 đến 3.000m2, nếu trong khu vực đô thị là 2,163 triệu đồng, ngoài khu vực đô thị là 1,440 triệu đồng), chưa quy định nội dung miễn, giảm mức phí đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với đối tượng hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS, mặc khác mức thu nhập của đối tượng hộ nghèo, người DTTS trên địa bàn huyện còn thấp, khó có khả năng chi trả kinh phí đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu (Cử tri huyện Kbang, Chư Pưh cũng kiến nghị nội dung này). Cử tri đề nghị HĐND tỉnh, UBND tỉnh xem xét có cơ chế hỗ trợ hoặc chế độ miễn, giảm mức thu phỉ đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với đối tượng hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS. Đề nghị UBND tỉnh xem xét miên giảm kinh phí đo đạc, xuất trích lục đối với hộ gia đình nghèo, hộ đồng bào DTTS để tạo điều kiện cho các hộ này được đo đạc, lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Cử tri huyện Mang Yang). | Kỳ họp thứ Tư, HĐND tỉnh khóa XII. |
| 5 | Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành và các đơn vị có liên quan xem xét, giải quyết các kiến nghị của các hộ dân có đất sản xuất gần các trụ tháp gió thuộc Dự án điện gió trên địa bàn xã Ia Pech, huyện Ia Grai. Công ty Cổ phần Đầu tư Năng lượng Điện Xanh Gia Lai thi công trụ điện gió khi chưa thực hiện việc thỏa thuận bồi thường, hỗ trợ theo quy định làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất và tài sản trên đất hợp pháp của các hộ dân. Ngoài ra, các trụ điện gió vận hành gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng; mương thoát nước liên quan tới trụ E28, E29 gây xói mòn đất canh tác của Nhân dân, trụ điện gió khi vận hành gây tiếng ồn ảnh hưởng cuộc sống của các hộ dân ở gần, vì vậy cần hỗ trợ di dời công trình, nhà ở trong phạm vi hành lang an toàn cột tháp gió (Cử tri huyện Ia Grai). | Kỳ họp thứ Tư, HĐND tỉnh khóa XII. |
| 6 | Trong thời gian qua, bình quân mỗi ngày có hơn 100 lượt bệnh nhân điều trị nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Phú Thiện, Trung tâm Y tế phải bố trí 110 giường bệnh để đáp ứng nhu cầu điều trị của bệnh nhân. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng của Trung tâm Y tế huyện có thiết kế ban đầu 50 đến 70 giường bệnh. Do đó, số lượng bệnh nhân trong mỗi buồng bệnh luôn vượt so với quy định, làm ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc và điều trị của bệnh nhân. Ngoài ra, khoa Nội và khoa Nhi chung một khu nhà, khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản và khoa Ngoại chung một khu nhà, điều này không đảm bảo cho công tác khám và điều trị. Hiện tại Trung tâm Y tế huyện chỉ có một hội trường nhỏ, sức chứa chỉ có 25 người không đáp ứng được việc tổ chức họp và sinh hoạt chuyên môn cho Trung tâm y tế. Khoa Y học cổ truyền - Phục hồi chức năng phải bố trí tạm ở khu nhà dinh dưỡng để điều trị bệnh nhân. Để đảm bảo cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của Nhân dân trên địa bàn huyện, đề nghị tỉnh quan tâm xem xét đầu tư xây dựng thêm cho Trung tâm Y tế huyện Phú Thiện 03 khu nhà điều trị bệnh nhân và 01 Hội trường (Cử tri huyện Phú Thiện). | Kỳ họp thứ Tư, HĐND tỉnh khóa XII. |
| 7 | Theo Quyết định số 433/QĐ-UBDT ngày 18/6/2021 của Ủy ban dân tộc[1] phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, xã Chrôh Poman có 2 thôn đặc biệt khó khăn (thôn Sôma Lơng A, thôn Sôma Lơng B). Hiện nay, có 03 đơn vị đóng chân trên địa bàn thôn Sôma Lơng A: UBND xã Chrôh Pơnan, trường học và Trạm y tế xã; số cán bộ, công chức, viên chức của UBND xã và trường học đã được hưởng chế độ lương vùng 3; tuy nhiên, viên chức của Trạm y tế xã chưa được hưởng chế độ lương vùng 3 theo quy định; đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng xem xét giải quyết (Cử tri huyện Phú Thiện). | Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII. |
| 8 | Đề nghị UBND tỉnh sớm có ý kiến chấp thuận để thành phố mở rộng nút giao thông đường Phan Đình Phùng - đường Phạm Văn Đồng; nhằm giảm ùn tắc giao thông trong giờ cao điểm (Cử tri thành phố Pleiku). | Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII. |
| 9 | Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo Công ty Cổ phần cà phê Gia Lai - Chi nhánh Ia Grăng có phương án sản xuất, kinh doanh cụ thể sau khi thực hiện cổ phần hóa để quản lý, sử dụng hiệu quả diện tích đất đai của Công ty và giải quyết dứt điểm các vấn đề về hợp đồng lao động với công nhân (các hộ dân trên địa bàn xã Ia Grăng), đồng thời chỉ đạo các sở, ngành tỉnh phối hợp, hướng dẫn, hỗ trợ địa phương và Công ty trong việc đối thoại với công nhân thuộc Công ty Cổ phần cà phê Gia Lai trong thời gian tới, xây dựng phương án sử dụng đất, sử dụng lao động trước đây đã ký kết với Công ty TNHH MTV Cà phê Gia Lai để tránh lãng phí tài nguyên đất đai, ổn định đời sống người lao động và phòng ngừa những vấn đề phức tạp có thể phát sinh gây mất an ninh chính trị, an ninh nông thôn tại địa bàn (Cử tri huyện Ia Grai). | Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII. |
| 10 | Căn cứ Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 17/4/2020 của UBND tỉnh về việc đổi tên Ban Quản lý rừng phòng hộ Ayun Pa thành Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Tul trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo biên bản bàn giao ngày 03/9/2020 thì diện tích đất ngoài quy hoạch và diện tích trong quy hoạch 3 loại rừng do UBND huyện Chư Sê quản lý giao về UBND xã H’Bông quản lý là 3.891,12 ha. Tuy nhiên, từ khi nhận bàn giao đến nay UBND xã H’Bông gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý do thiếu nguồn lực và nhân lực. Diện tích rừng rộng, vị trí rừng có địa hình phức tạp khó khăn trong công tác tuần tra, quản lý rừng. Xung quanh diện tích đất rừng này không hộ dân sinh sống nên không tổ chức giao khoán rừng. Toàn bộ diện tích đất rừng tại khu vực Cheng Leng là đất phòng hộ nên công tác quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn. Theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm 2013 thì “Nhà nước giao đất rừng phòng hộ cho tổ chức quản lý rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được kết hợp sử dụng đất vào mục đích khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”. Do đó, để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng tại xã H’Bông, huyện Chư Sê. Đề nghị UBND tỉnh xem xét, bàn giao lại diện tích đất và rừng do UBND xã quản lý để sát nhập vào tổng diện tích rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Chư Sê để tiếp tục bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng theo đúng quy định (Cử tri huyện Chư Sê). | Kỳ họp thứ Sáu, HĐND tỉnh khóa XII. |
- 1Kế hoạch 138/KH-UBND năm 2022 thực hiện Đề án Phát triển y tế cơ sở, y tế dự phòng và công tác dân số tỉnh Hưng Yên, giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030
- 2Quyết định 69/2022/QĐ-UBND quy định việc thu hồi đất đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh Long An
- 3Nghị quyết 75/NQ-HĐND năm 2022 thông qua Danh mục công trình, dự án cần thu hồi đất và Danh mục công trình, dự án chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng năm 2023 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- 4Nghị quyết 25/NQ-HĐND năm 2023 thông qua kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới trước và sau Kỳ họp thứ mười; các ý kiến, kiến nghị của cử tri tại Nghị quyết 84/NQ-HĐND do tỉnh Thái Nguyên ban hành
- 5Nghị quyết 84/NQ-HĐND năm 2022 thông qua kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ bảy và các ý kiến, kiến nghị tại Nghị quyết 42/NQ-HĐND do tỉnh Thái Nguyên ban hành
- 6Nghị quyết 97/NQ-HĐND năm 2023 thông qua kết quả giám sát giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới trước và sau Kỳ họp thứ mười ba; các ý kiến, kiến nghị của cử tri tại Nghị quyết 25/NQ-HĐND do tỉnh Thái Nguyên ban hành
- 7Nghị quyết 81/NQ-HĐND kết quả giám sát giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri sau kỳ họp thường lệ cuối năm 2022 và trước kỳ họp thường lệ giữa năm 2023 - Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Thuận khóa XI
- 8Nghị quyết 300/NQ-HĐND năm 2024 kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ Mười ba và các kỳ họp trước của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm theo Nghị quyết 253/NQ-HĐND
- 1Luật đất đai 2013
- 2Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015
- 3Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015
- 4Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi 2019
- 5Quyết định 14/2019/QĐ-UBND về bộ đơn giá sản phẩm: Đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai
- 6Quyết định 433/QĐ-UBDT năm 2021 phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 do Ủy ban Dân tộc ban hành
- 7Quyết định 612/QĐ-UBDT năm 2021 phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc ban hành
- 8Nghị quyết 140/NQ-HĐND năm 2022 về kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri đã gửi đến Kỳ họp thứ Tư và các kỳ họp trước của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm
- 9Kế hoạch 138/KH-UBND năm 2022 thực hiện Đề án Phát triển y tế cơ sở, y tế dự phòng và công tác dân số tỉnh Hưng Yên, giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030
- 10Quyết định 69/2022/QĐ-UBND quy định việc thu hồi đất đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh Long An
- 11Nghị quyết 75/NQ-HĐND năm 2022 thông qua Danh mục công trình, dự án cần thu hồi đất và Danh mục công trình, dự án chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng năm 2023 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- 12Nghị quyết 25/NQ-HĐND năm 2023 thông qua kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới trước và sau Kỳ họp thứ mười; các ý kiến, kiến nghị của cử tri tại Nghị quyết 84/NQ-HĐND do tỉnh Thái Nguyên ban hành
- 13Nghị quyết 84/NQ-HĐND năm 2022 thông qua kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ bảy và các ý kiến, kiến nghị tại Nghị quyết 42/NQ-HĐND do tỉnh Thái Nguyên ban hành
- 14Nghị quyết 97/NQ-HĐND năm 2023 thông qua kết quả giám sát giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới trước và sau Kỳ họp thứ mười ba; các ý kiến, kiến nghị của cử tri tại Nghị quyết 25/NQ-HĐND do tỉnh Thái Nguyên ban hành
- 15Nghị quyết 81/NQ-HĐND kết quả giám sát giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri sau kỳ họp thường lệ cuối năm 2022 và trước kỳ họp thường lệ giữa năm 2023 - Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Thuận khóa XI
- 16Nghị quyết 300/NQ-HĐND năm 2024 kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ Mười ba và các kỳ họp trước của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm theo Nghị quyết 253/NQ-HĐND
Nghị quyết 186/NQ-HĐND năm 2022 về kết quả giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI; Kỳ họp thứ Sáu và kỳ họp trước của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XII chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa dứt điểm do tỉnh Gia Lai ban hành
- Số hiệu: 186/NQ-HĐND
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 09/12/2022
- Nơi ban hành: Tỉnh Gia Lai
- Người ký: Hồ Văn Niên
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/12/2022
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
