Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 23 tháng 5 năm 2019 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 7 năm 2019. Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, mang lại những cải tiến quan trọng trong quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ tại Việt Nam. Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu toàn bộ các nội dung cốt lõi của văn bản pháp luật này.
- Khái niệm và tiêu chí lựa chọn án lệ
Nghị quyết đưa ra định nghĩa pháp lý chuẩn xác về án lệ và thiết lập các tiêu chuẩn nghiêm ngặt để một phán quyết có thể được phát triển thành án lệ:
- Khái niệm án lệ: Là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố nhằm mục đích để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng thống nhất trong xét xử.
- Tiêu chí lựa chọn: Bản án, quyết định được chọn làm án lệ phải đáp ứng đầy đủ 03 tiêu chí cốt lõi: có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; có tính chuẩn mực; và có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
- Quy trình đề xuất và lấy ý kiến đối với dự thảo án lệ
Quy trình đề xuất và lấy ý kiến được thiết kế nhằm huy động tối đa trí tuệ tập thể từ xã hội và giới chuyên môn:
- Đề xuất phát triển án lệ: Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền gửi đề xuất các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đáp ứng tiêu chí về Tòa án nhân dân tối cao để xem xét. Song song đó, các Tòa án có trách nhiệm chủ động rà soát, phát hiện các phán quyết phù hợp của Tòa án mình để gửi đề xuất.
- Lấy ý kiến rộng rãi: Bản án, quyết định được đề xuất cùng dự thảo án lệ phải được đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 30 ngày để các Tòa án, chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn và nhân dân tham gia góp ý. Quy định này không áp dụng bắt buộc đối với các trường hợp án lệ do Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm phán đề xuất trực tiếp.
- Lấy ý kiến Hội đồng tư vấn: Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến rộng rãi, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ xem xét và quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ.
- Cơ cấu và vai trò của Hội đồng tư vấn án lệ
Hội đồng tư vấn án lệ đóng vai trò là cơ quan phản biện chuyên môn sâu sắc trước khi án lệ được trình Hội đồng Thẩm phán thông qua:
- Thành phần Hội đồng: Do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thành lập, gồm ít nhất 09 thành viên. Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch Hội đồng khoa học Tòa án nhân dân tối cao, 01 Phó Chủ tịch là Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Tòa án nhân dân tối cao. Các thành viên khác gồm đại diện Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các cơ quan tổ chức liên quan, các chuyên gia pháp luật và đại diện Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học (kiêm Thư ký).
- Trường hợp đặc biệt: Đối với các án lệ về lĩnh vực hình sự, thành phần Hội đồng tư vấn bắt buộc phải có thêm đại diện Cơ quan điều tra của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Phương thức hoạt động: Hội đồng tiến hành thảo luận, cho ý kiến thông qua phiên họp trực tiếp hoặc bằng văn bản. Chủ tịch Hội đồng quyết định phương thức lấy ý kiến và báo cáo kết quả tư vấn lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
- Thủ tục thông qua và công bố án lệ
Quy trình thông qua và công bố án lệ được thực hiện chặt chẽ nhằm bảo đảm tính pháp lý cao nhất:
- Thông qua án lệ: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thảo luận và biểu quyết. Phiên họp chỉ hợp lệ khi có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham gia và án lệ chỉ được thông qua khi được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.
- Các nguồn án lệ được xem xét thông qua: Bao gồm án lệ phát triển từ bản án đã qua thủ tục lấy ý kiến rộng rãi; án lệ do Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất; án lệ do Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao đề xuất; hoặc án lệ do Hội đồng Thẩm phán tự lựa chọn khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Công bố án lệ: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành quyết định công bố án lệ. Nội dung công bố phải cấu trúc rõ ràng gồm: số, tên án lệ; bản án gốc; tình huống pháp lý và giải pháp pháp lý; quy định pháp luật liên quan; từ khóa; các tình tiết vụ án và nội dung chi tiết của án lệ. Án lệ sau đó được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, gửi cho các Tòa án và đưa vào Tuyển tập án lệ để xuất bản.
- Nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử
Nghị quyết quy định cụ thể trách nhiệm và kỹ thuật áp dụng án lệ của Thẩm phán và Hội thẩm:
- Thời điểm áp dụng: Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công bố.
- Nguyên tắc áp dụng: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm bắt buộc phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau.
- Nghĩa vụ giải trình: Trường hợp vụ việc đang giải quyết có tình huống pháp lý tương tự với án lệ nhưng Tòa án quyết định không áp dụng án lệ đó thì phải nêu rõ, phân tích cụ thể lý do không áp dụng trong bản án, quyết định của Tòa án.
- Kỹ thuật viện dẫn: Khi áp dụng án lệ, Tòa án phải viện dẫn, phân tích rõ số, tên án lệ, tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý của án lệ và đối chiếu với tình huống thực tế của vụ việc đang giải quyết trong phần "Nhận định của Tòa án". Có thể trích dẫn một phần hoặc toàn bộ nội dung án lệ để làm rõ lập luận.
- Quy trình và thủ tục bãi bỏ án lệ
Để bảo đảm hệ thống án lệ luôn phù hợp với thực tiễn và sự thay đổi của hệ thống pháp luật, quy trình bãi bỏ được quy định như sau:
- Các trường hợp bãi bỏ: Án lệ đương nhiên bị bãi bỏ nếu không còn phù hợp do có sự thay đổi của pháp luật. Hội đồng Thẩm phán sẽ xem xét quyết định bãi bỏ án lệ trong trường hợp án lệ không còn phù hợp do chuyển biến tình hình thực tế, hoặc bản án/quyết định gốc phát triển thành án lệ đã bị hủy, sửa toàn bộ hoặc một phần liên quan đến án lệ.
- Thủ tục bãi bỏ: Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền kiến nghị bãi bỏ án lệ. Tòa án đã hủy, sửa bản án gốc phải báo cáo bằng văn bản kèm quyết định hủy, sửa về Tòa án nhân dân tối cao trong vòng 05 ngày làm việc.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị hoặc báo cáo, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán để biểu quyết bãi bỏ án lệ (áp dụng nguyên tắc biểu quyết quá bán). Chánh án sau đó ban hành thông báo bãi bỏ án lệ, xác định rõ thời điểm bãi bỏ và đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử.
- Điều khoản thi hành và các biểu mẫu ban hành kèm theo
Nghị quyết chuẩn hóa các văn bản hành chính liên quan và phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện:
- Hệ thống biểu mẫu chuẩn: Ban hành kèm theo 03 biểu mẫu gồm: Biên bản phiên họp lựa chọn, thông qua án lệ (Mẫu số 01-AL); Quyết định về việc công bố án lệ (Mẫu số 02-AL); Thông báo về việc bãi bỏ án lệ (Mẫu số 03-AL).
- Đơn vị thường trực: Giao Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học thuộc Tòa án nhân dân tối cao làm đơn vị thường trực tham mưu, giúp việc cho Chánh án và Hội đồng Thẩm phán trong toàn bộ công tác rà soát, lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
- Giải quyết vướng mắc: Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, các đơn vị cần kịp thời phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao để được giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04/2019/NQ-HĐTP | Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2019 |
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT NGHỊ:
Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.
Điều 2. Tiêu chí lựa chọn án lệ
Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
1. Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể;
2. Có tính chuẩn mực;
3. Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
Điều 3. Đề xuất bản án, quyết định để phát triển thành án lệ
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng lập luận, phán quyết đáp ứng các tiêu chí hướng dẫn tại
2. Các Tòa án có trách nhiệm tổ chức rà soát, phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mình chứa đựng lập luận, phán quyết đáp ứng các tiêu chí hướng dẫn tại
Điều 4. Lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ
1. Bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án, chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, cá nhân, cơ quan, tổ chức quan tâm tham gia ý kiến, trừ trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết này.
Ý kiến góp ý được gửi về Tòa án nhân dân tối cao. Thời gian lấy ý kiến góp ý là 30 ngày kể từ ngày đăng tải.
2. Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến rộng rãi đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ. Việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2 và
1. Hội đồng tư vấn án lệ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thành lập gồm có ít nhất 09 thành viên. Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch Hội đồng khoa học Tòa án nhân dân tối cao, 01 Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Tòa án nhân dân tối cao, các thành viên khác là đại diện Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia về pháp luật và 01 đại diện lãnh đạo Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao (đồng thời là Thư ký Hội đồng).
Trường hợp tư vấn án lệ về hình sự thì thành phần của Hội đồng tư vấn án lệ phải có đại diện Cơ quan điều tra của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Hội đồng tư vấn án lệ có trách nhiệm thảo luận cho ý kiến đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ.
3. Việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ được thực hiện thông qua phiên họp thảo luận trực tiếp hoặc bằng văn bản. Chủ tịch Hội đồng tư vấn án lệ quyết định phương thức lấy ý kiến của các thành viên Hội đồng và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kết quả tư vấn.
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thảo luận, biểu quyết thông qua án lệ.
2. Án lệ được xem xét thông qua khi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Được phát triển từ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đã được lấy ý kiến theo hướng dẫn tại
b) Được Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất;
c) Được Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao đề xuất;
d) Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.
4. Kết quả biểu quyết phải được ghi vào biên bản phiên họp lựa chọn, thông qua án lệ của Hội đồng Thẩm phán và là căn cứ để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố án lệ.
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành quyết định công bố án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua.
2. Nội dung công bố bao gồm:
a) Số, tên án lệ;
b) Số, tên bản án, quyết định của Tòa án có nội dung được phát triển thành án lệ;
c) Tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý của án lệ;
d) Quy định của pháp luật có liên quan đến án lệ;
đ) Từ khóa về những tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý trong án lệ;
e) Các tình tiết trong vụ án và phán quyết của Tòa án có liên quan đến án lệ;
g) Nội dung của án lệ.
3. Án lệ được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Tòa án, các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao và được đưa vào Tuyển tập án lệ để xuất bản.
Điều 8. Áp dụng án lệ trong xét xử
1. Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công bố.
2. Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau. Trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhưng Tòa án không áp dụng án lệ thì phải nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án.
3. Trường hợp Tòa án áp dụng án lệ để giải quyết vụ việc thì số, tên án lệ, tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý trong án lệ và tình huống pháp lý của vụ việc đang được giải quyết phải được viện dẫn, phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án”; tùy từng trường hợp cụ thể có thể trích dẫn toàn bộ hoặc một phần nội dung của án lệ để làm rõ quan điểm của Tòa án trong việc xét xử, giải quyết vụ việc tương tự.
1. Án lệ đương nhiên bị bãi bỏ trong trường hợp án lệ không còn phù hợp do có sự thay đổi của pháp luật.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định, việc bãi bỏ án lệ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Án lệ không còn phù hợp do chuyển biến tình hình;
b) Bản án, quyết định có nội dung được lựa chọn phát triển thành án lệ đã bị hủy, sửa toàn bộ hoặc phần liên quan đến án lệ.
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức, Tòa án kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc bãi bỏ án lệ khi phát hiện án lệ thuộc trường hợp hướng dẫn tại
2. Tòa án đã hủy, sửa bản án, quyết định thuộc trường hợp hướng dẫn tại
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, báo cáo theo hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2 Điều này, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc bãi bỏ án lệ.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp biểu quyết thông qua việc bãi bỏ án lệ theo nguyên tắc hướng dẫn tại
Trên cơ sở kết quả biểu quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông báo bãi bỏ án lệ, trong đó xác định rõ thời điểm án lệ bị bãi bỏ. Thông báo bãi bỏ án lệ được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Tòa án, các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.
Ban hành kèm theo Nghị quyết này các biểu mẫu sau đây:
1. Mẫu số 01-AL Biên bản phiên họp lựa chọn, thông qua án lệ;
2. Mẫu số 02-AL Quyết định về việc công bố án lệ;
3. Mẫu số 03-AL Thông báo về việc bãi bỏ án lệ.
1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23 tháng 5 năm 2019 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2019.
2. Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
3. Giao Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học là đơn vị thường trực tham mưu, giúp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong công tác rà soát, lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
4. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.
|
| TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN |
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
| HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
| Hà Nội, ngày tháng năm 20… |
Lựa chọn, thông qua án lệ
- Căn cứ Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
Ngày ... tháng ... năm …(1) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiến hành phiên họp để lựa chọn, thông qua án lệ.
I. Thành phần tham gia phiên họp:
- Tham gia phiên họp có …(2) thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Chủ trì: ..............................................................................................................................
- Người ghi biên bản: ..........................................................................................................
II. Nội dung phiên họp: (3)
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
III. Kết quả biểu quyết thông qua án lệ: (4)
Sau khi thảo luận, Hội đồng Thẩm phán đã tiến hành biểu quyết; kết quả như sau:
- Số thành viên đồng ý thông qua án lệ: ..............................................................................
- Số thành viên không đồng ý thông qua án lệ: ...................................................................
- Ý kiến khác: ......................................................................................................................
Phiên họp kết thúc lúc ... giờ ... ngày ... tháng ... năm ...
| CHỦ TRÌ | NGƯỜI GHI BIÊN BẢN |
___________________
(1) Ghi ngày, tháng, năm Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiến hành phiên họp.
(2) Ghi số thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tham gia phiên họp.
(3) Ghi nội dung phát biểu, thảo luận tại phiên họp.
(4) Ghi kết quả biểu quyết thông qua đối với từng án lệ.
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | |
| Số: /QĐ-CA | Hà Nội, ngày tháng năm 20… | |
CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
- Căn cứ Điều 27 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ;
- Căn cứ kết quả lựa chọn, biểu quyết thông qua án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày ... tháng... năm ...,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Công bố…(1) án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua (có án lệ kèm theo).
Điều 2. Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày ………………..(2)
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
|
| CHÁNH ÁN |
________________
(1) Ghi số lượng án lệ được thông qua.
(2) Được xác định theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết.
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: /TB-CA | Hà Nội, ngày tháng năm 20… |
CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
- Căn cứ Điều 27 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ;
- Căn cứ kết quả thảo luận, biểu quyết thông qua việc bãi bỏ án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày ... tháng ... năm ...,
THÔNG BÁO:
I. Bãi bỏ án lệ sau đây:(1)
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
II. Án lệ bị bãi bỏ kể từ ngày ... tháng ... năm ...
|
| CHÁNH ÁN |
___________________
(1) Ghi số, tên án lệ bị bãi bỏ.
- 1Quyết định 74/QĐ-TANDTC năm 2012 phê duyệt Đề án Phát triển án lệ của Toà án nhân dân tối cao
- 2Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn Quy định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ Luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi Bộ Luật tố tụng dân sự do Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành
- 3Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 4Chỉ thị 04/2016/CT-CA về tăng cường công tác phát triển và công bố án lệ; áp dụng án lệ trong xét xử do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 5Công văn 100/TANDTC-PC năm 2023 về áp dụng Án lệ 47/2021/AL do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 1Quyết định 74/QĐ-TANDTC năm 2012 phê duyệt Đề án Phát triển án lệ của Toà án nhân dân tối cao
- 2Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn Quy định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ Luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi Bộ Luật tố tụng dân sự do Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành
- 3Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014
- 4Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015
- 5Chỉ thị 04/2016/CT-CA về tăng cường công tác phát triển và công bố án lệ; áp dụng án lệ trong xét xử do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 6Công văn 100/TANDTC-PC năm 2023 về áp dụng Án lệ 47/2021/AL do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- Số hiệu: 04/2019/NQ-HĐTP
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 18/06/2019
- Nơi ban hành: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
- Người ký: Nguyễn Hòa Bình
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/07/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
