Nghị định 40-CP được ban hành năm 1995 bởi Chính phủ quy định về việc trả nợ nước ngoài bằng hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thống nhất quản lý, điều hành hoạt động xuất khẩu hàng hóa và cung ứng dịch vụ để thanh toán các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam, bảo đảm hiệu quả ngân sách và thúc đẩy sản xuất trong nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan) cùng các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện việc sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu để trả nợ nước ngoài theo kế hoạch của Chính phủ.
Kế hoạch và hạn mức trả nợ nước ngoài
- Tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ để trả nợ là một phần không tách rời của kế hoạch trả nợ hàng năm đã được Quốc hội thông qua trong dự toán ngân sách Nhà nước.
- Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương mại và các ngành liên quan xây dựng kế hoạch trả nợ chi tiết cho từng nước, từng đối tượng và theo từng phương thức cụ thể (tiền, hàng hóa, dịch vụ) dựa trên khả năng ngân sách và cán cân thương mại.
- Sau khi kế hoạch được phê duyệt, Bộ Tài chính thông báo hạn mức cụ thể cho từng nước để Bộ Thương mại và các ngành liên quan đàm phán, ký kết thỏa thuận với phía nước ngoài, sau đó trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các hiệp định, văn kiện đã ký.
Nguồn gốc hàng hóa và cơ chế đấu thầu trả nợ
- Hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu trả nợ phải được sản xuất và thực hiện tại Việt Nam, được thanh toán từ nguồn ngân sách Nhà nước thông qua kết quả đấu thầu hoặc giao chỉ tiêu.
- Nghiêm cấm hành vi nhập khẩu hàng hóa hoặc mua hàng hóa không có nguồn gốc sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu trả nợ.
- Cơ chế đấu thầu được áp dụng từng bước và chuyển đổi hoàn toàn sang cơ chế đấu thầu từ năm 1996 đối với toàn bộ hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu trả nợ.
- Thành lập Hội đồng đấu thầu Liên Bộ do đại diện Bộ Tài chính làm Chủ tịch, cùng sự tham gia của Bộ Thương mại, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Ban Vật giá Chính phủ và các Tổng công ty ngành hàng liên quan để tổ chức và phê duyệt quy chế đấu thầu.
Nguyên tắc phân bổ hạn mức đối với mặt hàng chưa đấu thầu
Đối với các nhóm hàng chưa đủ điều kiện đấu thầu, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước chủ trì lập phương án phân bổ hạn mức trình Thủ tướng Chính phủ theo các nguyên tắc sau:
- Tập trung phân bổ trực tiếp cho các Tổng công ty ngành hàng sản xuất kinh doanh của Trung ương, địa phương có vùng sản xuất tập trung và các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, bảo đảm chất lượng xuất khẩu.
- Đối với hàng hóa mua gom từ dân, hợp tác xã, hộ gia đình thì phân bổ cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh theo ngành hàng.
- Đối với các mặt hàng xuất khẩu theo đầu mối đã công bố, chỉ phân bổ cho các đầu mối này trên cơ sở tham khảo ý kiến của các Hiệp hội ngành hàng.
- Trường hợp thay đổi mặt hàng trả nợ theo yêu cầu của phía nước ngoài, Bộ Thương mại điều hành với điều kiện tỷ giá thanh toán mặt hàng thay thế không cao hơn mặt hàng cũ và ưu tiên phân bổ cho doanh nghiệp chuyên doanh mặt hàng đó.
Quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp thực hiện trả nợ
- Doanh nghiệp trúng thầu hoặc được giao chỉ tiêu phải thực hiện đúng cam kết đơn đặt hàng của Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Doanh nghiệp trúng thầu được trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu. Doanh nghiệp được phân bổ hạn mức cũng được tự xuất khẩu hoặc ủy thác qua các đầu mối quy định (hoặc bất kỳ công ty xuất nhập khẩu nào đối với hàng không quy định đầu mối).
- Về nguyên tắc, Nhà nước không trợ giá hoặc bù lỗ xuất khẩu cho hàng hóa, dịch vụ trả nợ; các trường hợp đặc biệt phải do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Doanh nghiệp được phép xuất khẩu hàng hóa trả nợ sang nước thứ ba để thu ngoại tệ tự do chuyển đổi nhằm thanh toán cho ngân hàng nước chủ nợ theo đúng hướng dẫn của các cơ quan quản lý.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước
- Ngân hàng Nhà nước: Theo dõi kim ngạch thực hiện để quyết toán với ngân hàng nước chủ nợ; thông báo kịp thời cho Bộ Tài chính khi đối tác xác nhận nhận được tiền; chỉ đạo Ngân hàng Ngoại thương làm thủ tục thanh toán đối ngoại trừ nợ.
- Bộ Thương mại: Hướng dẫn thông tin hợp đồng, giá cả cho doanh nghiệp bảo đảm hoạt động xuất khẩu diễn ra bình thường như thương mại thông thường; thông báo cho các đối tác liên quan khi cần thiết.
- Bộ Tài chính: Thanh toán kịp thời tiền hàng cho các doanh nghiệp đã giao hàng trả nợ hoặc có doanh thu dịch vụ trừ nợ nước ngoài của Nhà nước. Trường hợp chậm thanh toán từ 01 tháng trở lên (kể từ khi đủ hồ sơ), Bộ Tài chính phải trả lãi theo lãi suất vay ngân hàng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Định kỳ hàng quý tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 40-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế cho Nghị định số 47-CP ngày 26/06/1993 của Chính phủ. Các nguyên tắc quản lý xuất nhập khẩu khác không được đề cập tại Nghị định này sẽ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 33-CP ngày 19/04/1994 của Chính phủ. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 40-CP | Hà Nội, ngày 03 tháng 7 năm 1995 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước tại Công văn số 1712-UB/TMDV ngày 31-5-1995,
NGHỊ ĐỊNH:
Bộ Thương mại, các ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các hiệp định, văn kiện liên quan đã ký kết và gửi Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước để triển khai kế hoạch trả nợ theo chức năng của mình.
Hội đồng do đại diện có thẩm quyền của Bộ Tài chính làm Chủ tịch và gồm các đại diện có thẩm quyền của Bộ Thương mại, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Ban Vật giá Chính phủ, Hội đồng Quản lý các Tổng công ty ngành hàng có liên quan tham gia. Bộ Tài chính được phép mời các thành phần khác tham gia Hội đồng khi xét thấy cần thiết.
1. Tập trung phân bổ trực tiếp cho các Tổng công ty ngành hàng sản xuất kinh doanh theo ngành hàng của Trung ương và các địa phương có sản xuất tập trung; các doanh nghiệp sản xuất có hiệu quả và đảm bảo chất lượng hàng xuất khẩu.
2. Đối với hàng hoá chủ yếu là mua gom từ sản xuất trong dân, hợp tác xã và gia đình, tập trung phân bổ cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh của Trung ương và địa phương theo ngành hàng.
3. Đối với những mặt hàng đã được sắp xếp xuất khẩu theo các đầu mối xuất khẩu đã được Bộ Thương mại công bố, chỉ tập trung phân bổ cho các đầu mối này, có tính đến ý kiến của các Hiệp hội sản xuất - kinh doanh theo ngành hàng.
4. Trường hợp phải thay đổi mặt hàng (trong nhóm hàng) trả nợ do phía nước ngoài đề nghị hoặc chấp nhận, giao Bộ Thương mại điều hành theo các nguyên tắc: tỷ giá thanh toán các mặt hàng thay thế không cao hơn tỷ giá thanh toán mặt hàng phải thay thế; phải phân bổ chủ yếu cho các doanh nghiệp có sản xuất kinh doanh các mặt hàng thay thế.
Các doanh nghiệp trúng thầu được trực tiếp xuất khẩu hoặc uỷ thác xuất khẩu phần hàng trả nợ đã trúng thầu.
Các doanh nghiệp được phân bổ hạn mức trả nợ (những mặt hàng tạm thời chưa áp dụng cơ chế đấu thầu) được phép trực tiếp xuất khẩu, hoặc uỷ thác xuất khẩu qua các công ty đầu mối xuất khẩu (trường hợp các mặt hàng quy định qua đầu mối xuất khẩu), hoặc uỷ thác xuất khẩu qua bất cứ công ty kinh doanh xuất nhập khẩu nào (đối với các mặt hàng không quy định đầu mối xuất khẩu).
Nghiêm cấm việc nhập khẩu hàng hoặc mua hàng hoá không sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu trả nợ.
1. Ngân hàng Nhà nước: theo dõi kim ngạch trả nợ các doanh nghiệp đã thực hiện để quyết toán với Ngân hàng các nước chủ nợ vào tài khoản của Việt Nam; thông báo kịp thời cho Bộ Tài chính khi Ngân hàng các nước chủ nợ thông báo đã nhận được số tiền trả nợ đối với từng lô hàng đã giao; chỉ đạo Ngân hàng Ngoại thương trong việc làm thủ tục thanh toán đối ngoại để trừ nợ Nhà nước đối với phía nước ngoài.
2. Bộ Thương mại: Hướng dẫn các thông tin về hợp đồng, giá cả cho các doanh nghiệp Việt Nam, bảo đảm việc xuất khẩu trả nợ như xuất khẩu thương mại bình thường; thông báo các đối tác có liên quan trong, ngoài nước khi thực hiện kế hoạch trả nợ trong trường hợp cần thiết.
Hàng quý, Bộ Tài chính tổng hợp tình hình, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện kế hoạch trả nợ; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch trả nợ; trường hợp vượt quá thẩm quyền, Bộ Tài chính báo cáo xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế cho Nghị định số 47-CP ngày 26-6-1993.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2Nghị định 47-CP năm 1993 ban hành quy chế tạm thời về trả nợ nước ngoài bằng hàng hoá xuất khẩu
- 3Nghị định 33-CP năm 1994 về quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
- 4Thông tư 87 TC/TCĐN năm 1995 về hướng dẫn việc xét quyết định tỷ giá và thanh toán hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ trả nợ nước ngoài do Bộ Tài chính ban hành
Nghị định 40-CP năm 1995 về việc trả nợ nước ngoài bằng hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ
- Số hiệu: 40-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 03/07/1995
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 18
- Ngày hiệu lực: 03/07/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
