Nghị định 19-HĐBT được ban hành năm 1992 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm hướng dẫn chi tiết việc giảm thuế, miễn thuế nông nghiệp đối với các trường hợp bị thiên tai, địch họa hoặc đất mới khai hoang, phục hóa.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nộp thuế nông nghiệp có diện tích đất chịu thuế bị thiệt hại do thiên tai, địch họa, hoặc các tổ chức, cá nhân thực hiện khai hoang, phục hóa đất đai để sản xuất nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
Căn cứ xét giảm thuế, miễn thuế nông nghiệp do thiên tai, địch họa
- Việc xét và quyết định giảm, miễn thuế nông nghiệp khi xảy ra thiên tai, địch họa hoặc mùa màng bị thiệt hại nặng phải căn cứ vào sản lượng thu hoạch thực tế so với mức sản lượng tính thuế trên toàn bộ diện tích đất chịu thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế.
- Đối với hộ xã viên, tập đoàn viên nhận khoán hoặc các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, việc quyết định giảm thuế được căn cứ vào tỷ lệ thiệt hại thực tế theo quy định tại điểm a, Điều 8, Nghị định 52-HĐBT ngày 27-5-1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
- Quy định giảm, miễn thuế này cũng được áp dụng đối với đất trồng cây lâu năm và đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày được phân hạng đất tính thuế như đất trồng cây hàng năm.
- Trong trường hợp thiên tai, địch họa gây thiệt hại nặng nề cho mùa màng, thuế nông nghiệp được xét và quyết định giảm hoặc miễn cụ thể đối với vụ thu hoạch đó.
Thời hạn miễn thuế nông nghiệp đối với đất mới khai hoang và đất phục hóa
Thời hạn được miễn thuế nông nghiệp đối với đất mới khai hoang và đất phục hóa được tính bắt đầu từ vụ thu hoạch đầu tiên, cụ thể như sau:
- Đối với đất mới khai hoang:
- Đất trồng cây hàng năm: Được miễn thuế trong thời hạn 3 năm. Riêng đối với đất khai hoang tại các vùng miền núi, đầm lầy, ven biển được miễn thuế trong thời hạn 5 năm.
- Đất trồng cây lâu năm (trừ đất trồng cây lấy gỗ): Được miễn thuế trong thời hạn từ 3 đến 4 năm.
- Đối với đất phục hóa:
- Đất trồng cây hàng năm: Được miễn thuế trong thời hạn 1 năm. Riêng đối với vùng miền núi, đầm lầy và ven biển được miễn thuế trong thời hạn 3 năm.
- Đất trồng cây lâu năm (kể cả trường hợp trồng lại mới, trừ đất trồng cây lấy gỗ): Được miễn thuế trong thời hạn từ 2 đến 3 năm.
Tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành
- Bộ Tài chính có trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành các quy định tại Nghị định này.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát việc thực hiện nghiêm túc các quy định về miễn, giảm thuế nông nghiệp tại địa phương.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 19-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ năm thuế nông nghiệp 1992. Tất cả các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 19-HĐBT | Hà Nội, ngày 17 tháng 1 năm 1992 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25-2-1983 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh thuế nông nghiệp ngày 30-1-1989 của Hội đồng Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH:
Việc quyết định giảm thuế cho hộ xã viên, tập đoàn viên nhận khoán hoặc hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp căn cứ vào tỷ lệ thiệt hại theo tỷ lệ đã quy định tại điểm a, điều 8, Nghị định 52-HĐBT ngày 27-5-1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
Đối với trường hợp đất cây trồng lâu năm, đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày được phân hạng đất tính thuế như đất trồng cây hàng năm thì việc xét giảm, miễn thuế được áp dụng theo quy định này.
1. Thời hạn được miễn thuế nông nghiệp đối với đất mới khai hoang như sau:
a) Đối với đất trồng hàng năm: 3 năm. Riêng đối với đất khai hoang ở miền núi, đầm lầy, ven biển: 5 năm.
b) Đối với đất trồng cây lâu năm, trừ đất trồng cây lấy gỗ: 3-4 năm.
2. Thời hạn được miễn thuế nông nghiệp đối với đất phục hoá như sau:
a) Đối với đất trồng cây hàng năm: 1 năm. Riêng đối với miền núi, đầm lầy và ven biển: 3 năm.
b) Đối với đất trồng cây lâu năm kể cả trồng lại mới, trừ đất trồng cây lấy gỗ: 2-3 năm.
Điều 4.- Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ năm thuế nông nghiệp 1992.
Những quy định trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1983 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Pháp lệnh Sửa đổi Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 4Nghị định 52-HĐBT năm 1989 thi hành Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nông nghiệp sửa đổi do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Nghị quyết về việc thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh do Quốc hội ban hành
Nghị định 19-HĐBT năm 1992 Hướng dẫn giảm thuế, miễn thuế nông nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 19-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 17/01/1992
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 01/01/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
