Nghị định số 52-HĐBT được ban hành năm 1989 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp. Đây là văn bản pháp lý quan trọng xác lập nghĩa vụ đóng góp của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời quy định cụ thể về phân hạng đất, thuế suất, các trường hợp miễn giảm thuế và tổ chức bộ máy thu thuế trong giai đoạn cuối thập niên 1980.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng thuế nông nghiệp
Nghị định xác định rõ ràng các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế cũng như phân định cụ thể diện tích đất chịu thuế và đất được miễn thuế:
- Đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế: Bao gồm các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp; hộ tư nhân, hộ nông dân sản xuất riêng lẻ; các xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trạm, trại quốc doanh, cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, trường học có sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp; các tổ chức xã hội, đoàn thể (nhà thờ, chùa, đền, Hội nông dân, Đoàn thanh niên...); và các xã viên, cán bộ, chiến sĩ, cá nhân sử dụng đất làm kinh tế gia đình.
- Các loại đất chịu thuế nông nghiệp: Đất nông nghiệp (gồm cả đồng cỏ, bãi bồi, mặt nước nhỏ nuôi trồng thủy sản); các loại đất khác được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp (đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất dự trữ, đất trồng cây lấy gỗ/lá không thuộc diện nộp tiền nuôi rừng); và phần đất vượt quá hạn mức quy định tại Điều 35 của Luật Đất đai.
- Các loại đất không chịu thuế nông nghiệp: Đất xây dựng trường học, trạm xá, nhà văn hóa, sân vận động, nghĩa trang, trụ sở xã, nhà kho, sân phơi, xưởng chế biến nông sản, trại chăn nuôi của các tổ chức quốc doanh và tập thể sử dụng đúng thiết kế; đất ở theo hạn mức; đất làm công trình giao thông, thủy lợi quy mô lớn và vừa; đất khai hoang, phục hóa trồng cây hàng năm chưa đến hạn chịu thuế; đất vùng rẻo cao hoặc vùng mới định canh, định cư được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chưa thu thuế.
Quy định về phân hạng đất và quy đổi nông sản tính thuế
- Hạng đất tính thuế: Đối với đất trồng cây hàng năm (trừ cây công nghiệp ngắn ngày), giữ nguyên hạng đất đã xác định trong hai năm 1984-1985. Tuy nhiên, phải điều chỉnh nâng hạng đối với các vùng đất đã chuyển đổi sang cây trồng có thu nhập cao hoặc tăng từ một vụ lên hai vụ nhờ đầu tư thủy lợi, cải tạo đất. Đất mới đưa vào tính thuế được xếp hạng tương đương với ruộng liền canh hoặc ruộng có điều kiện sản xuất tương tự tại địa phương.
- Thẩm quyền phê duyệt: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cấp huyện xác định lại hạng đất, tổng hợp bảng phân hạng để trình Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn. Hàng năm, Bộ Tài chính duyệt diện tích đất chịu thuế để trình Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt.
- Tỷ lệ quy đổi: Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn tỷ lệ quy đổi các loại nông sản ra thóc để phục vụ việc phân đất, điều chỉnh hạng đất và thu thuế.
Thuế suất đối với các loại cây trồng cụ thể
Nghị định phân chia thuế suất dựa trên loại cây trồng và sản lượng thực thu hàng năm:
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Thuế tính bằng 10% trên sản lượng thực thu hàng năm.
- Cây dược liệu đặc biệt: Thuế tính bằng 20% trên sản lượng thực thu hàng năm. Đối với các loại cây dược liệu khác, áp dụng cách tính thuế như đất trồng cây hàng năm.
- Đất vườn và cây lâu năm: Thuế được tính theo tỷ lệ phần trăm trên sản lượng hoặc giá trị sản lượng hàng năm tùy theo loại cây trồng, căn cứ theo quy định tại Điều 9 Pháp lệnh Thuế nông nghiệp năm 1989. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm cụ thể hóa mức thuế suất cho từng loại cây.
- Xác định sản lượng tính thuế: Sản lượng của cây công nghiệp ngắn ngày, cây dược liệu đặc biệt và sản lượng/giá trị sản lượng của cây lâu năm, vườn tạp do Ủy ban nhân dân cấp xã xác định dưới sự chỉ đạo của cấp huyện, sau đó trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt để làm căn cứ tính thuế.
Chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp
Nhằm hỗ trợ người sản xuất trước thiên tai và thực hiện chính sách xã hội, Nghị định quy định chi tiết các trường hợp miễn, giảm thuế:
- Giảm, miễn thuế do thiên tai, địch họa: Việc xét giảm dựa trên tỷ lệ thiệt hại sản lượng thực tế cả năm so với sản lượng chịu thuế trên toàn bộ diện tích. Cụ thể:
- Thiệt hại từ 15% đến 40%: Giảm thuế tương đương với tỷ lệ thiệt hại.
- Thiệt hại từ trên 40% đến 45%: Giảm 50% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ trên 45% đến 50%: Giảm 60% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ trên 50% đến 60%: Giảm 70% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại trên 55%: Được miễn thuế hoàn toàn.
- Giảm, miễn thuế do thay đổi quy hoạch: Các tổ chức, cá nhân bị giảm sút thu nhập nghiêm trọng do tổ chức lại sản xuất hoặc thay đổi quy hoạch, phương án kinh tế - kỹ thuật đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt sẽ được xem xét giảm hoặc miễn thuế.
- Giảm, miễn thuế đối với đối tượng chính sách xã hội: Thương binh, bệnh binh, bố mẹ hoặc vợ liệt sĩ cô đơn, gia đình có công với cách mạng, hộ nông dân nghèo thuộc dân tộc ít người hoặc vùng căn cứ kháng chiến cũ gặp khó khăn về đời sống, thiếu sức lao động, không có nguồn thu nhập khác được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận sẽ được xét giảm, miễn thuế.
- Thẩm quyền quyết định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyền quyết định giảm, miễn thuế cho các trường hợp trên trong phạm vi không quá 5% tổng số thuế ghi thu cả năm của địa phương. Nếu thiệt hại quá nặng cần giảm, miễn vượt mức 5%, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải đề nghị Bộ Tài chính quyết định.
Thời hạn, phương thức thu nộp và quản lý thuế
- Năm thuế nông nghiệp: Được tính từ ngày 1 tháng 10 năm nay đến ngày 30 tháng 9 năm sau đối với các tỉnh từ Bình Trị Thiên trở ra; và từ ngày 1 tháng 12 năm nay đến ngày 30 tháng 11 năm sau đối với các tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào. Thuế được tính cho cả năm nhưng thu từ 1 đến 2 lần tùy theo vụ thu hoạch chính.
- Lập sổ thuế: Sổ thuế nông nghiệp được lập hàng năm. Đối với hộ gia đình, hợp tác xã thì lập tại xã và nộp tại xã. Đối với nông trường, lâm trường, đơn vị vũ trang thì lập tại cơ quan thuế cấp huyện hoặc cấp tỉnh và nộp tại nơi lập sổ.
- Hình thức thu thuế:
- Đất trồng lúa: Thu chủ yếu bằng thóc. Thu bằng tiền đối với vùng cao, vùng xa không có điều kiện vận chuyển, không có cơ quan thu mua, hoặc khi người dân có yêu cầu và Nhà nước có thể dùng tiền để mua đủ số thóc tương ứng.
- Cây hàng năm khác và các nông, lâm trường, trạm trại quốc doanh: Thu chủ yếu bằng tiền.
- Giá tính thuế bằng tiền thay hiện vật do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định dựa trên thời giá nông sản thực tế tại địa phương ở thời điểm thu thuế.
- Điều tiết ngân sách: Toàn bộ số thuế thu được phải nộp kịp thời vào ngân sách Nhà nước. Việc điều tiết số thu thuế nông nghiệp cho ngân sách địa phương thực hiện theo chế độ phân cấp quản lý tài chính, riêng tỷ lệ điều tiết cho ngân sách cấp xã do Bộ Tài chính quy định cụ thể.
Tổ chức thực hiện và chế tài xử lý vi phạm
- Trách nhiệm quản lý: Bộ Tài chính thống nhất chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra. Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác thu thuế tại địa phương mình trước cấp trên. Ngành thuế nông nghiệp là cơ quan chuyên môn thuộc ngành tài chính, được tổ chức thống nhất từ trung ương đến cấp xã.
- Kinh phí hoạt động: Bộ Tài chính dự trù một khoản kinh phí phục vụ công tác thuế nông nghiệp trong ngân sách Nhà nước hàng năm để trình Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt.
- Chế tài xử lý vi phạm:
- Hành vi khai man, lậu thuế: Phạt tiền từ 100% đến 200% số thuế nộp thiếu bên cạnh việc phải nộp đủ số thuế ẩn lậu.
- Hành vi nộp chậm: Phạt 1% số thuế nộp chậm cho mỗi ngày quá hạn, mức phạt tối đa không quá 50% số thuế nộp chậm.
- Trốn nộp thuế và tiền phạt: Sẽ bị xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Xử lý cán bộ vi phạm: Người lợi dụng chức quyền bao che cho người vi phạm, làm trái quy định hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 52-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ năm thuế nông nghiệp 1989 và thay thế hoàn toàn cho Nghị định số 25-HĐBT ngày 30 tháng 3 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 52-HĐBT | Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 1989 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 25 tháng 2 năm 1983;
Căn cứ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh về thuế nông nghiệp ngày 30 tháng 1 năm 1989,
NGHỊ ĐỊNH:
a) Các hợp tác xã nông nghiệp, các tập đoàn sản xuất nông nghiệp.
b) Các hộ tư nhân, các hộ nông dân sản xuất riêng lẻ sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp.
d) Các tổ chức xã hội, các đoàn thể (nhà thờ, chùa, đền, thánh thất, Hội nông dân, Đoàn thanh niên...) sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp.
đ) Các xã viên hợp tác xã, tập đoàn viên tập đoàn sản xuất nông nghiệp; công nhân, viên chức, các cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trạm, trại quốc doanh; cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và các cá nhân khác có sử dụng đất làm kinh tế gia đình.
a) Những loại đất phải chịu thuế nông nghiệp bao gồm:
- Đất nông nghiệp, kể cả đồng cỏ, bãi bồi, mặt nước nhỏ nuôi trồng thuỷ sản.
- Đất khác, nếu dùng vào sản xuất nông nghiệp (đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất dự trữ, đất trồng cây lấy gỗ, lấy lá không thuộc diện nộp tiền nuôi rừng...).
- Đất để vượt quá mức quy định tại điều 35 của Luật đất đai.
b) Những loại đất không phải chịu thuế nông nghiệp bao gồm:
- Đất làm trường học, trạm xá, nhà văn hoá, sân vận động cố định, bể bơi cố định, nghĩa trang, trụ sở xã, nhà kho, sân phơi, xưởng chế biến nông sản, trại chăn nuôi của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, nông trường, lâm trường, trạm, trại quốc doanh sử dụng theo đúng nhiệm vụ thiết kế được duyệt.
- Đất để ở theo quy định tại điều 35 của Luật đất đai.
- Đất làm công trình giao thông thuỷ lợi lớn và vừa.
- Đất khai hoang, phục hoá trồng cây hàng năm chưa đến hạn chịu thuế nông nghiệp.
- Đất ở vùng rẻo cao, vùng mới định canh, định cư được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quyết định chưa chịu thuế nông nghiệp.
Hàng năm Bộ Tài chính duyệt diện tích đất chịu thuế cây hàng năm và cây lâu năm của các địa phương để trình Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn.
Đất mới đưa vào tính thuế (bao gồm cả đất nông trường, lâm trường, trạm trại quốc doanh) được xếp hạng tính thuế theo hạng đất của ruộng liền canh hoặc của ruộng đất có điều kiện và kết quả sản xuất tương tự ở địa phương.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chỉ đạo Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác định lại hạng đất tính thuế và tổng hợp bảng phân hạng đất tính thuế của địa phương trình Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn.
- Cây công nghiệp ngắn ngày: 10%
- Cây dược liệu đặc biệt: 20%.
Đất trồng cây dược liệu khác tính thuế như đối với đất trồng cây hàng năm quy định tại
Đất trồng cây lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày và cây dược liệu đặc biệt không áp dụng Quy định này.
Bộ Tài chính cụ thể hoá từng loại cây theo các thuế suất đã quy định.
Điều 8. - Việc xét và giải quyết giảm thuế, miễn thuế quy định như sau:
a) Trường hợp do thiên tai, địch hoạ mà mùa màng bị thiệt hại nặng thì lấy sản lượng thực tế thu hoạch cả năm so với sản lượng chịu thuế trên toàn bộ diện tích đất chịu thuế của tổ chức hoặc cá nhân nộp thuế để tính thiệt hại, rồi căn cứ vào tỷ lệ thiệt hại mà miễn, giảm thuế theo tỷ lệ như sau:
| | Tỷ lệ giảm thuế |
| Thiệt hai từ 15% đến 40% | Giảm thuế tương đương |
| Thiệt hại từ trên 40% đến 45% | Giảm thuế 50% |
| Thiệt hại từ trên 45% đến 50% | Giảm thuế 60% |
| Thiệt hại từ trên 50% đến 60% | Giảm thuế 70% |
| Thiệt hại trên 55% | Miễn thuế |
d) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương được quyền quyết định giảm thuế, miễn thuế trong các trường hợp nói ở các điểm a, b, c trên đây trong phạm vi không quá 5% tổng số thuế ghi thu trong cả năm của tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
Trường hợp thiên tai, địch hoạ nặng, cần giảm, miễn thuế nhiều hơn mức quy định trên thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương đề nghị Bộ Tài chính quyết định. Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện giảm, miễn thuế của các địa phương.
Điều 9.- Năm thuế nông nghiệp tính từ ngày 1 tháng 10 năm nay đến 30 tháng 9 năm sau đối với các tỉnh từ Bình Trị Thiên trở ra và từ ngày 1 tháng 12 năm nay đến 30 tháng 11 năm sau đối với các tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào.
Thuế tính cả năm nhưng thu mỗi năm từ 1 đến 2 lần, tuỳ theo vụ sản xuất của mỗi cây trồng chính trong năm.
Hội đồng Bộ trưởng giao mức thu thuế cả năm cho từng tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
Bộ Tài chính phân bố mức thu từng vụ cho từng tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quy định và công bố ngày bắt đầu và kết thúc vụ thuế nông nghiệp của địa phương.
Điều 10.- Sổ thuế nông nghiệp lập hàng năm.
Đối với các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, xã viên, tập đoàn viên và các tổ chức, cá nhân khác được xã, phường, thị trấn giao đất để sản xuất nông nghiệp thì sổ thuế nông nghiệp lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn và nộp tại nơi lập sổ thuế.
- Đối với cây hàng năm khác: thu chủ yếu bằng tiền.
- Đối với các nông trường, lâm trường, trại, trạm quốc doanh: thu bằng tiền.
Giá để tính thuế bằng tiền thay hiên vật nông sản do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quy định, căn cứ vào thời giá nông sản ở địa phương tại thời điểm thu thuế.
Việc điều tiết số thu về thuế nông nghiệp tính thành tiền do ngân sách tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương được quy định trong chế độ phân cấp quản lý tài chính và ngân sách Nhà nước. Đối với ngân sách xã, phường, thị trấn, tỷ lệ điều tiết này do Bộ Tài chính quy định cụ thể.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp và các ngành trong địa phương tổ chức thực hiện công tác thuế nông nghiệp, thu đủ số thuế theo chỉ tiêu được Hội đồng Bộ trưởng giao.
Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chịu trách nhiệm về công tác thuế nông nghiệp của địa phương trước Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp tổ chức thu nộp thuế chịu trách nhiệm giao đủ số thuế bằng hiện vật và bằng tiền cho ngân sách Nhà nước đúng kỳ hạn.
Hệ thống tổ chức ngành thuế nông nghiệp nằm trong ngành tài chính, được quản lý thống nhất từ trung ương đến xã. Cán bộ thuế nông nghiệp được hưởng chế độ trang cấp các phương tiện cần thiết để phục vụ công tác thuế nông nghiệp.
Bộ Tài chính quy định cụ thể chế độ trích lập và sử dụng khoản kinh phí này.
a) Nếu khai man, lậu thuế bị phát hiện thì phải nộp đủ số thuế thiếu và phải nộp phạt từ 100% đến 200% số thuế nộp thiếu.
b) Nếu quá hạn mà vẫn chưa nộp thì mỗi ngày phải nộp phạt từ 1% số thuế nộp chậm. Mức phạt tối đa có thể đến 50% số thuế nộp chậm.
c) Nếu không nộp thuế và không nộp phạt thì xử theo Bộ luật hình sự.
d) Uỷ ban nhân dân các cấp quyết định việc xử phạt và thu tiền phạt. Số tiền phạt phải đưa vào nguồn thu khác của ngân sách theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
đ) Người nào lợi dụng chức, quyền bao che cho người vi phạm Pháp lệnh về thuế nông nghiệp, làm trái các quy định về thuế nông nghiệp hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc thi hành Pháp lệnh về thuế nông nghiệp thì bị xử lý theo kỷ luật hành chính. Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử phạt theo Bộ luật hình sự.
Điều 18. - Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1983 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Luật Đất đai 1987
- 4Pháp lệnh Sửa đổi Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 5Thông tư 56-TC/TCT năm 1990 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về thuế nông nghiệp và Nghị định 52-HĐBT 1989 về thuế nông nghiệp đối với nông trường, lâm trường và các trại, trạm quốc doanh do Bộ Tài chính ban hành
- 6Thông tư 61 TC/TNN năm 1989 về hướng dẫn thu thuế nông nghiệp bằng tiền do Bộ Tài chính
Nghị định 52-HĐBT năm 1989 thi hành Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nông nghiệp sửa đổi do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 52-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 27/05/1989
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 10
- Ngày hiệu lực: 01/01/1989
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
