Giới thiệu chung về Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994 được ban hành nhằm mục đích bảo hộ và khuyến khích các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam. Văn bản này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995, đặt nền móng pháp lý quan trọng cho việc thu hút nguồn lực nội sinh, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật quy định các hoạt động đầu tư trong nước bao gồm việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam của các chủ đầu tư. Đối tượng áp dụng cụ thể bao gồm:
- Tổ chức, công dân Việt Nam.
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam.
Vốn đầu tư được thừa nhận dưới nhiều hình thức đa dạng như tiền Việt Nam, ngoại tệ chuyển đổi, vàng, bạc, đá quý, chứng khoán chuyển nhượng, nhà xưởng, công trình xây dựng, thiết bị, máy móc, các phương tiện sản xuất khác hoặc giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công nghiệp.
Các hình thức đầu tư được áp dụng
Luật quy định ba hình thức đầu tư chủ yếu được hưởng các chính sách khuyến khích:
- Thành lập mới các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có.
- Mua cổ phần của các doanh nghiệp, góp vốn vào các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp Nhà nước được phép đa dạng hóa hình thức sở hữu.
Chính sách bảo hộ và hỗ trợ đầu tư của Nhà nước
Nhà nước cam kết bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, lợi nhuận và các quyền lợi hợp pháp khác của chủ đầu tư. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của chủ đầu tư sẽ không bị quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc lợi ích quốc gia, Nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng dụng tài sản thì chủ đầu tư sẽ được thanh toán hoặc bồi thường theo thời giá thị trường, đồng thời được tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn thích hợp.
Bên cạnh đó, Nhà nước triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ thiết thực cho hoạt động đầu tư trong nước:
- Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng tại các khu công nghiệp để cho thuê làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung hạn và dài hạn.
- Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, ngân hàng thương mại, công ty tài chính vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên cơ sở cùng có lợi.
- Quy định việc bảo lãnh tín dụng đầu tư của các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty tài chính.
- Hỗ trợ thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư như tư vấn quản lý, kinh doanh, tư vấn pháp lý, đào tạo nghề, nâng cao kiến thức quản lý và cung cấp thông tin kinh tế.
- Phổ biến và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho chủ đầu tư sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới được tạo ra bằng vốn ngân sách Nhà nước.
- Cho phép thuê chuyên gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc cho dự án và cho phép họ chuyển thu nhập hợp pháp ra nước ngoài sau khi nộp thuế.
Danh mục dự án và địa bàn được hưởng ưu đãi đầu tư
Các dự án đầu tư được hưởng chính sách ưu đãi tập trung vào các lĩnh vực và địa bàn sau:
- Lĩnh vực ưu đãi: Trồng rừng, trồng cây lâu năm trên đất chưa sử dụng, đất trống, đồi núi trọc; nuôi trồng thủy sản ở các vùng nước chưa khai thác, đánh bắt hải sản xa bờ; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phát triển vận tải công cộng đô thị, phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa dân tộc, nghiên cứu khoa học và công nghệ; chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản và các dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông - lâm - ngư nghiệp; sản xuất hàng xuất khẩu; các ngành công nghiệp ưu tiên trong từng thời kỳ và các ngành nghề truyền thống.
- Địa bàn ưu đãi: Đầu tư ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và các vùng khó khăn khác.
- Tiêu chí đặc thù: Đầu tư thành lập cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ hiện đại hoặc cơ sở sản xuất sử dụng nhiều lao động.
Các chế độ ưu đãi cụ thể về thuế và tín dụng
Các dự án thuộc diện ưu đãi ngoài việc hưởng các quyền lợi theo luật thuế hiện hành còn được áp dụng thêm các chính sách ưu đãi vượt trội:
- Ưu đãi thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp): Cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thành lập được giảm 50% thuế lợi tức thêm từ một đến hai năm. Riêng đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và vùng khó khăn được miễn thuế lợi tức thêm từ một đến hai năm, giảm 50% thuế lợi tức thêm từ một đến năm năm và giảm 50% thuế doanh thu thêm từ một đến hai năm.
- Ưu đãi tái đầu tư: Cơ sở sản xuất, kinh doanh bỏ thêm vốn hoặc dùng lợi nhuận còn lại để tái đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ được miễn thuế lợi tức cho phần lợi nhuận tăng thêm của năm tiếp theo do phần đầu tư mới này mang lại.
- Ưu đãi thuế nhập khẩu: Các dự án đặc biệt khuyến khích được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc, phụ tùng do chủ đầu tư trực tiếp hoặc ủy thác nhập khẩu để xây dựng cơ sở sản xuất. Nếu sử dụng sai mục đích, chủ đầu tư phải truy nộp đủ thuế và bị xử lý theo pháp luật.
- Ưu đãi cổ tức và lợi nhuận góp vốn: Lợi nhuận được chia từ hình thức mua cổ phần hoặc góp vốn vào doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập hoặc thuế lợi tức trong thời hạn ba năm, kể từ khi lợi nhuận được chia lần đầu.
- Ưu đãi tín dụng: Chủ đầu tư thành lập cơ sở mới bảo đảm hiệu quả được ưu tiên xem xét cho vay tín dụng trung và dài hạn từ các quỹ hỗ trợ đầu tư. Nếu đầu tư tại vùng khó khăn, miền núi, hải đảo sẽ được áp dụng lãi suất ưu đãi. Cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu được ưu tiên bảo lãnh tín dụng và cấp tín dụng xuất khẩu.
Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư
Chủ đầu tư được trao nhiều quyền tự chủ lớn nhưng đồng thời phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội:
- Quyền hạn của chủ đầu tư: Tự do lựa chọn ngành, nghề và địa bàn đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam; lựa chọn hình thức đầu tư; hưởng đầy đủ các ưu đãi theo quy định; chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đã đăng ký; thuê lao động không hạn chế số lượng (phải trả lương không thấp hơn mức tối thiểu do Chính phủ quy định); xuất cảnh ra nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư.
- Nghĩa vụ của chủ đầu tư: Kinh doanh đúng đăng ký; thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về kế toán, thống kê; nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác; tuân thủ pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; tuân thủ pháp luật về tổ chức công đoàn, tạo điều kiện cho các tổ chức này hoạt động; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động; tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh.
Trường hợp có sự thay đổi chủ đầu tư trong thời hạn hưởng ưu đãi, nếu chủ đầu tư mới tiếp tục thực hiện dự án thì đương nhiên được hưởng các ưu đãi cho thời gian còn lại và phải thực hiện đúng các nghĩa vụ đã đăng ký. Nếu chủ đầu tư không còn đủ điều kiện, các ưu đãi sẽ bị rút bỏ một phần hoặc toàn bộ.
Quy định riêng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện đầu tư theo Luật này được phép chuyển ra nước ngoài các khoản tiền hợp pháp bao gồm: lợi nhuận thu được từ nguồn vốn chuyển hợp pháp từ nước ngoài vào; tiền gốc và lãi của các khoản vay từ nước ngoài; vốn đầu tư ban đầu đã chuyển hợp pháp vào Việt Nam; các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp. Khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, người đầu tư phải nộp một khoản thuế bằng 5% số tiền chuyển.
Quản lý nhà nước về khuyến khích đầu tư
Công tác quản lý nhà nước được phân cấp rõ ràng giữa Trung ương và địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư:
- Chính phủ: Thống nhất quản lý nhà nước về đầu tư và khuyến khích đầu tư; chỉ định cơ quan chuyên trách giúp Chính phủ thực hiện chức năng này. Cơ quan quản lý có nhiệm vụ xây dựng danh mục ngành nghề, địa bàn ưu đãi; hướng dẫn, giám sát thực hiện; tiếp nhận đơn và quyết định cấp hoặc từ chối cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư trong thời hạn ba mươi ngày đối với các doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Thực hiện quản lý nhà nước về khuyến khích đầu tư trong phạm vi địa phương; xây dựng và công bố danh mục dự án cần khuyến khích đầu tư gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tiếp nhận đơn và quyết định cấp hoặc từ chối cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận đơn.
Chế tài xử lý vi phạm
Luật quy định nghiêm khắc các hành vi vi phạm nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật:
- Chủ đầu tư có hành vi man trá để hưởng chế độ ưu đãi hoặc vi phạm quy định của Luật này phải hoàn trả toàn bộ các khoản ưu đãi đã hưởng, đồng thời tùy mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc đầu tư, cấp ưu đãi sai quy định, sách nhiễu chủ đầu tư hoặc vi phạm pháp luật sẽ phải bồi thường thiệt hại, bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995. Tất cả các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc diện ưu đãi đã thành lập trước ngày Luật có hiệu lực, sẽ được hưởng chế độ ưu đãi đầu tư cho thời gian còn lại; Nhà nước không thực hiện hoàn trả các khoản thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác mà doanh nghiệp đã thực hiện trước thời điểm Luật có hiệu lực.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 35-L/CTN | Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 1994 |
SỐ 35-L/CTN NGÀY 22/06/1994 CỦA QUỐC HỘI VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
Để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh;
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này quy định về khuyến khích đầu tư trong nước.
Nhà nước bảo hộ và khuyến khích tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Chính phủ quy định cụ thể việc đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và của người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam.
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1- "Đầu tư trong nước" là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân quy định tại
2- "Chủ đầu tư" là tổ chức hoặc cá nhân quy định tại
Vốn đầu tư là tiền Việt Nam; ngoại tệ chuyển đổi được; vàng, bạc, đá quý; chứng khoán chuyển nhượng được; nhà xưởng, công trình xây dựng, thiết bị, máy móc, các phương tiện sản xuất khác hoặc giá trị quyền sử dụng đất, quyền sử hữu công nghiệp được sử dụng để đầu tư tại Việt Nam.
Đầu tư được áp dụng theo Luật này bao gồm:
1- Đầu tư thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế;
2- Đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có;
Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, lợi nhuận, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ đầu tư.
Tài sản, vốn đầu tư và lợi nhuận hợp pháp của chủ đầu tư không bị quốc hữu hoá.
Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của chủ đầu tư, thì chủ đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo thời giá thị trường và được tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn thích hợp.
Nhà nước thực hiện các biện pháp sau đây nhằm hỗ trợ các hoạt động đầu tư trong nước:
1- Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
2- Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh;
3- Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung hạn và dài hạn. Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của các quỹ hỗ trợ đầu tư;
4- Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, ngân hàng thương mại, công ty tài chính vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên cơ sở cùng có lợi;
5- Quy định việc bảo lãnh tín dụng đầu tư của các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty tài chính;
6- Hỗ trợ việc tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư, gồm:
a) Tư vấn quản lý và kinh doanh;
b) Tư vấn pháp lý;
c) Tổ chức dạy nghề và đào tạo cán bộ kỹ thuật;
d) Đào tạo và nâng cao kiến thức quản lý;
đ) Cung cấp thông tin kinh tế;
7- Phổ biến và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới tạo ra bởi vốn ngân sách Nhà nước.
Chủ đầu tư được thuê chuyên gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc cho dự án đầu tư trong nước. Trình tự và thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh được áp dụng như quy định về xuất cảnh, nhập cảnh đối với người nước ngoài làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chuyên gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc cho dự án đầu tư trong nước, sau khi nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật Việt Nam, được chuyển ra nước ngoài phần thu nhập của mình theo chế độ quản lý ngoại hối của Nhà nước Việt Nam.
Các dự án đầu tư sau đây được ưu đãi:
1- Đầu tư vào các lĩnh vực:
a) Trồng rừng, trồng cây lâu năm trên đất chưa sử dụng, đất trống, đồi núi trọc; nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng nước chưa được khai thác; đánh bắt hải sản ở vùng biển xa bờ;
b) Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật; phát triển vận tải công cộng đô thị; phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá dân tộc; nghiên cứu khoa học, công nghệ;
c) Chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản; các dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp;
d) Sản xuất hàng xuất khẩu;
đ) Các ngành công nghiệp cần ưu tiên trong từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội; các ngành, nghề truyền thống;
2- Đầu tư ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và các vùng khó khăn khác;
3- Đầu tư thành lập cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ hiện đại, cơ sở sản xuất sử dụng nhiều lao động.
Chính phủ quy định danh mục ngành, nghề của từng lĩnh vực, phạm vi các vùng, tiêu chuẩn về công nghệ và quy mô sử dụng lao động được hưởng ưu đãi đầu tư, theo quy hoạch và định hướng phát triển của Nhà nước.
Ngoài chế độ ưu đãi được quy định trong các luật, pháp lệnh về thuế hiện hành, các dự án đầu tư quy định tại
1- Cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thành lập được giảm 50% (năm mươi phần trăm) thuế lợi tức thêm từ một đến hai năm; riêng đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và các vùng khó khăn khác, được miễn thuế lợi tức thêm từ một đến hai năm, giảm 50% (năm mươi phần trăm) thuế lợi tức thêm từ một đến năm năm và giảm 50% (năm mươi phần trăm) thuế doanh thu thêm từ một đến hai năm;
2- Cơ sở sản xuất, kinh doanh bỏ thêm vốn đầu tư hoặc sử dụng lợi nhuận còn lại để tái đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ được miễn thuế lợi tức cho phần lợi nhuận tăng thêm của năm tiếp theo do phần đầu tư mới này mang lại;
4- Lợi nhuận được chia từ hình thức đầu tư quy định tại
Chính phủ quy định cụ thể các mức ưu đãi đầu tư.
Chủ đầu tư thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới theo quy định tại
Cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu thuộc diện ưu tiên phát triển được bảo lãnh tín dụng và cấp tín dụng xuất khẩu.
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ ĐẦU TƯ
Theo quy định của pháp luật, chủ đầu tư có quyền:
1- Lựa chọn ngành, nghề và địa bàn đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam;
2- Lựa chọn hình thức đầu tư;
3- Được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật này;
4- Chủ động trong hoạt động đầu tư và sản xuất, kinh doanh đã đăng ký;
5- Thuê lao động không hạn chế về số lượng; trả tiền công trên cơ sở thoả thuận với người lao động nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định;
6- Xuất cảnh ra nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Chính phủ.
Chủ đầu tư có nghĩa vụ:
1- Kinh doanh theo đúng đăng ký, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.
2- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;
3- Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội;
4- Tuân thủ các quy định của pháp luật về tổ chức công đoàn và các đoàn thể khác tại doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đó hoạt động;
5- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ được quy định trong pháp luật về lao động;
6- Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh.
Trong trường hợp có sự thay đổi chủ đầu tư trong thời hạn được hưởng ưu đãi mà chủ đầu tư mới vẫn tiếp tục thực hiện dự án đầu tư đó, thì chủ đầu tư mới đương nhiên được hưởng các ưu đãi trong thời hạn còn lại và có trách nhiệm thực hiện đúng các nghĩa vụ để được hưởng ưu đãi của dự án đầu tư đã đăng ký.
Trong trường hợp chủ đầu tư không còn đủ điều kiện để tiếp tục hưởng ưu đãi theo quy định của Luật này, thì sẽ bị rút bỏ một phần hoặc toàn bộ các ưu đãi đã được chấp thuận.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện đầu tư theo quy định của Luật này được chuyển ra nước ngoài:
1- Lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất, kinh doanh do việc sử dụng vốn đầu tư chuyển hợp pháp từ nước ngoài vào;
2- Tiền gốc và lãi của các khoản vay từ nước ngoài trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh;
3- Vốn đầu tư đã chuyển hợp pháp từ nước ngoài vào;
4- Các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.
Chính phủ quy định thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền và tài sản quy định tại Điều này.
Khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ
1- Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đầu tư và khuyến khích đầu tư.
Chính phủ chỉ định cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khuyến khích đầu tư.
2- Cơ quan quản lý Nhà nước về khuyến khích đầu tư có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng và trình Chính phủ quyết định danh mục các ngành, nghề và phạm vi các vùng được hưởng ưu đãi đầu tư;
b) Hướng dẫn và giám sát việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ và chế độ ưu đãi đầu tư;
c) Nhận đơn xin ưu đãi đầu tư và trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn, quyết định việc cấp hoặc từ chối cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật cho các doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khuyến khích đầu tư trong nước trên phạm vi địa phương theo quy định của pháp luật;
2- Xây dựng và công bố danh mục các dự án cần khuyến khích đầu tư gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
3- Nhận đơn xin ưu đãi đầu tư và trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn, quyết định việc cấp hoặc từ chối cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật.
Chủ đầu tư có hành vi man trá để hưởng chế độ ưu đãi đầu tư hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì phải hoàn trả các khoản ưu đãi đã được hưởng và tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc đầu tư, cho hưởng ưu đãi đầu tư không đúng với quy định, có hành vi sách nhiễu đối với chủ đầu tư hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì phải bồi thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1995.
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ.
Cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc diện ưu đãi đầu tư quy định tại
Nhà nước không hoàn trả các khoản thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác mà doanh nghiệp phải thực hiện trong thời gian trước khi Luật này có hiệu lực.
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994.
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Hiến pháp năm 1992
- 2Nghị định 29/CP năm 1995 Hướng dẫn Luật khuyến khích đầu tư trong nước
- 3Nghị định 07/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi
- 4Thông tư 94-TC/TCT-1995 hướng dẫn thủ tục, trình tự, thẩm quyền xét miễn, giảm thuế theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Nghị định 29-CP năm 1995 thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước do Bộ Tài chính ban hành
- 5Công văn 58/TCT/NV2 của Tổng cục Thuế về việc miễm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
- 6Công văn 1296/TCT/CS của Tổng cục Thuế về việc ưu đãi thuế theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994
- Số hiệu: 35-L/CTN
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 22/06/1994
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 16
- Ngày hiệu lực: 01/01/1995
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
