Tóm tắt Công văn số 4475/TCHQ-GSQL ngày 20/09/2004 của Tổng cục Hải quan về việc phối hợp thực hiện Công ước CITES
Công văn số 4475/TCHQ-GSQL được Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn các đơn vị hải quan địa phương phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong việc kiểm soát, giám sát hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp theo quy định của Công ước CITES. Dưới đây là nội dung phân tích chi tiết các quy định cốt lõi của văn bản:
- Mục đích và phạm vi kiểm soát hải quan
- Tăng cường hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam đối với Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
- Áp dụng quy trình kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt đối với tất cả các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu hoặc quá cảnh có chứa các loài động vật, thực vật hoang dã (bao gồm cả mẫu vật, bộ phận dẫn xuất) thuộc các Phụ lục I, II, III của Công ước CITES qua các cửa khẩu Việt Nam.
- Yêu cầu bắt buộc về Giấy phép CITES
- Khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan bắt buộc phải xuất trình bản chính Giấy phép CITES hoặc Chứng chỉ CITES do Cơ quan quản lý CITES Việt Nam (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cấp.
- Đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, ngoài giấy phép của Việt Nam, phải có Giấy phép CITES xuất khẩu hoặc tái xuất khẩu do Cơ quan quản lý CITES của nước xuất khẩu cấp.
- Giấy phép CITES phải đảm bảo tính hợp lệ về mặt hình thức: còn thời hạn hiệu lực, có chữ ký và con dấu của cơ quan có thẩm quyền, không có dấu hiệu tẩy xóa hoặc sửa chữa thông tin.
- Quy trình kiểm tra và xác nhận của công chức Hải quan
- Kiểm tra hồ sơ hải quan: Công chức hải quan đối chiếu kỹ lưỡng thông tin trên tờ khai hải quan với các thông tin ghi trên Giấy phép CITES, bao gồm: tên khoa học, tên thông thường của loài, số lượng, trọng lượng, quy cách đóng gói và mục đích thương mại hoặc phi thương mại.
- Kiểm tra thực tế hàng hóa: Thực hiện kiểm tra thực tế lô hàng để đảm bảo tính đồng nhất giữa hàng hóa thực tế và khai báo trên giấy phép. Trong trường hợp cần thiết, hải quan phối hợp với cơ quan kiểm dịch, kiểm lâm để xác định chính xác chủng loại.
- Xác nhận thực xuất/thực nhập: Sau khi hoàn thành thủ tục thông quan, công chức hải quan phải ghi rõ số lượng thực tế xuất khẩu hoặc nhập khẩu, ký tên, đóng dấu công chức vào ô xác nhận dành riêng cho lực lượng Hải quan trên Giấy phép CITES gốc.
- Cơ chế phối hợp liên ngành tại cửa khẩu
- Cơ quan Hải quan chủ động phối hợp với Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, lực lượng Kiểm lâm và các cơ quan kiểm dịch động, thực vật tại cửa khẩu để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, giả mạo giấy phép.
- Thường xuyên trao đổi thông tin về các phương thức, thủ đoạn buôn lậu, vận chuyển trái phép các loài hoang dã nguy cấp qua biên giới nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống vi phạm.
- Biện pháp xử lý nghiêm các hành vi vi phạm
- Mọi hành vi xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu hoặc quá cảnh các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp mà không có Giấy phép CITES hợp lệ đều bị coi là hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
- Cơ quan Hải quan tiến hành lập biên bản vi phạm, tạm giữ tang vật và phương tiện vi phạm, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
- Đối với các lô hàng động vật hoang dã còn sống bị tịch thu, cơ quan Hải quan phải nhanh chóng bàn giao cho các trung tâm cứu hộ hoặc cơ quan kiểm lâm địa phương để chăm sóc, bảo tồn theo đúng quy định pháp luật, tránh gây thiệt hại đến đời sống của cá thể động vật.
Công văn số 4475/TCHQ-GSQL đóng vai trò là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng, giúp lực lượng Hải quan thống nhất quy trình kiểm soát cửa khẩu, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4475/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2004 |
Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố
Ngày 8 tháng 9 năm 2004, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có công văn số 2883/BNN-KL gửi Tổng cục Hải quan thông báo thời gian gần đây, cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn liên tục nhận được thư đề nghị từ cơ quan thẩm quyền quản lý CITES của Mỹ về việc đề nghị phía Việt Nam nhận lại các lô hàng vô chủ, chủ yếu là các loài phong lan được nhập khẩu bất hợp pháp vào Mỹ.
Để phối hợp thực hiện Công ước CITES, Tổng cục yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố chỉ đạo Hải quan cửa khẩu thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 11/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ, Thông tư số 123/2003/TT-BNN ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; tăng cường các biện pháp nghiệp vụ kiểm tra, giám sát để ngăn chặn các trường hợp vận chuyển bất hợp pháp các loài phong lan ra nước ngoài.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
- 1Công văn số 4515/TCHQ-GSQL ngày 19/09/2002 của Tổng cục Hải quan về việc xác nhận giấy phép CITES
- 2Công văn số 343/KL-VP CITES ngày 21/04/2003 của Cục Kiểm lâm-Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phối hợp thực thi Nghị định 11/2002/NĐ-CP của Chính phủ và Công ước CITES
- 3Nghị định 11/2002/NĐ-CP về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã
- 4Thông tư 123/2003/TT-BNN hướng dẫn Nghị định 11/2002/NĐ-CP về quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã do Bộ Nội vụ ban hành
Công văn số 4475/TCHQ-GSQL ngày 20/09/2004 của Tổng cục Hải quan về việc phối hợp thực hiện Công ước CITIES
- Số hiệu: 4475/TCHQ-GSQL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/09/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Vũ Ngọc Anh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/09/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
