Tổng quan về Công văn số 2561/LĐTBXH-LĐTL
Công văn số 2561/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Văn bản tập trung làm rõ phương pháp xác định thời gian làm việc thực tế, cách khấu trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và trách nhiệm tài chính của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được xác định dựa trên các nguyên tắc chặt chẽ sau:
- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc trước đó (nếu có).
- Thời gian làm việc thực tế bao gồm: thời gian làm việc theo hợp đồng lao động; thời gian thử việc; thời gian được cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản; thời gian điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; thời gian nghỉ lễ, tết, nghỉ hàng năm và các khoảng thời gian nghỉ việc khác được hưởng lương theo quy định.
Phân định thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/01/2009
Công văn nhấn mạnh mốc thời gian áp dụng Luật Bảo hiểm xã hội về chính sách bảo hiểm thất nghiệp để phân định trách nhiệm chi trả:
- Kể từ ngày 01/01/2009, khi chính sách bảo hiểm thất nghiệp chính thức có hiệu lực, thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ không được tính vào thời gian để người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
- Đối với khoảng thời gian này, quyền lợi của người lao động khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động sẽ do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả dưới hình thức trợ cấp thất nghiệp, do cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện.
- Người sử dụng lao động chỉ có nghĩa vụ chi trả trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian làm việc trước ngày 01/01/2009 mà người lao động chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Phương thức tính mức chi trả trợ cấp thôi việc
Công văn hướng dẫn chi tiết về cách thức quy đổi thời gian lẻ và xác định tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp:
- Mỗi năm làm việc thực tế (sau khi đã trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp) được trợ cấp một nửa tháng lương.
- Trường hợp thời gian làm việc có tháng lẻ thì được làm tròn theo nguyên tắc có lợi cho người lao động: từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm làm việc; từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng được tính tròn là 01 năm làm việc.
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được xác định cụ thể trong hợp đồng.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội yêu cầu các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động phải nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Chủ động rà soát quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của người lao động để xác định chính xác thời gian làm việc thực tế làm cơ sở tính trợ cấp.
- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan bảo hiểm xã hội để hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và trả sổ bảo hiểm xã hội kịp thời cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng.
- Thực hiện thanh toán đầy đủ, đúng hạn các khoản trợ cấp thôi việc trực tiếp cho người lao động trong thời hạn quy định của pháp luật kể từ ngày chấm dứt quan hệ lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2561/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2009 |
| Kính gửi: | Trung tâm điện thoại di động CDMA (S-Telecom) |
Trả lời công văn số 393/CV-S-Telecom ngày 19/5/2009 của Trung tâm điện thoại di động CDMA (S-Telecom) về việc trả trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
Theo Điều 42 Bộ luật Lao động (đã sửa đổi, bổ sung năm 2006) quy định: khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có).
Trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp đủ 12 tháng trở lên, trong đó vừa có thời gian làm việc mà không tham gia bảo hiểm thất nghiệp, vừa có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, khi thôi việc được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số Điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động, đồng thời được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đủ Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp (hoặc được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp nếu chưa đủ Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp) theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 21/01/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Đối với 3 trường hợp nêu tại công văn của quý Công ty thì ông Nguyễn Văn Thanh (làm việc 03 tháng), ông Trần Thanh Hiền (làm việc 10 tháng) đều có thời gian làm việc tại doanh nghiệp dưới 12 tháng nên không thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp thôi việc. Trường hợp ông Trương Thanh Hoàng có tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp là 1 năm 4 tháng, trong đó có 13 tháng không tham gia bảo hiểm thất nghiệp (03/12/2007-31/12/2008) được làm tròn thành 1,5 năm và được hưởng trợ cấp thôi việc là 0,75 tháng lương của mức tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. 3 tháng còn lại (01/01/2009 – 31/3/2009) là thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đủ Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; tuy nhiên ông Hoàng được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp (03 tháng) và được cộng dồn để tính thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ tính hưởng trợ cấp thất nghiệp khi mất việc hoặc thôi việc lần sau theo quy định.
Đề nghị Công ty thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn số 2001/LĐTBXH-LĐTL về việc trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 2Công văn 2451/LĐTBXH-LĐTL về trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 3Công văn 2597/LĐTBXH-LĐTL về chi trả trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 1Bộ Luật lao động sửa đổi 2006
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Nghị định 127/2008/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp
- 4Thông tư 04/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 127/2008/NĐ-CP hướng dẫn một số điều Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 5Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 6Công văn số 2001/LĐTBXH-LĐTL về việc trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 7Công văn 2451/LĐTBXH-LĐTL về trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 8Công văn 2597/LĐTBXH-LĐTL về chi trả trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
Công văn số 2561/LĐTBXH-LĐTL về việc trả trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 2561/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/07/2009
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/07/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
