Tóm tắt Công văn số 205/LĐTBXH-TL về tiền lương làm thêm giờ
Công văn số 205/LĐTBXH-TL của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng liên quan đến phương thức tính và chi trả tiền lương làm thêm giờ cho người lao động. Văn bản này đưa ra các căn cứ pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động về chế độ tiền lương khi huy động lao động làm việc vượt quá thời giờ làm việc tiêu chuẩn.
Nguyên tắc xác định tiền lương làm thêm giờ
Theo hướng dẫn, việc tính toán tiền lương làm thêm giờ phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cốt lõi sau đây:
- Căn cứ tính lương: Tiền lương làm thêm giờ được tính toán dựa trên đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm của ngày làm việc bình thường.
- Xác định tiền lương giờ thực trả: Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường được xác định bằng cách lấy tiền lương thực trả của tháng (hoặc tuần, ngày) chia cho số giờ làm việc thực tế tương ứng trong tháng (hoặc tuần, ngày) theo quy định của doanh nghiệp, nhưng không được vượt quá số giờ làm việc tiêu chuẩn do luật định.
- Sự tự nguyện và giới hạn thời gian: Việc tổ chức làm thêm giờ chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của người lao động và tổng số giờ làm thêm không được vượt quá giới hạn tối đa trong ngày, trong tháng và trong năm theo quy định của Bộ luật Lao động.
Mức chi trả tiền lương làm thêm giờ trong các trường hợp cụ thể
Công văn hướng dẫn chi tiết tỷ lệ phần trăm tối thiểu áp dụng để tính tiền lương làm thêm giờ cho người lao động tùy thuộc vào thời điểm thực hiện công việc:
- Làm thêm giờ vào ngày thường: Người lao động được trả lương ít nhất bằng 150% so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường. Mức này áp dụng cho các giờ làm thêm vào ngày làm việc định kỳ trong tuần của doanh nghiệp.
- Làm thêm giờ vào ngày nghỉ hằng tuần: Người lao động được hưởng mức lương ít nhất bằng 200% so với đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường khi được huy động làm việc vào ngày nghỉ tuần (ví dụ: Thứ Bảy hoặc Chủ Nhật tùy theo lịch của đơn vị).
- Làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương: Người lao động được hưởng ít nhất bằng 300% đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường. Mức này chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
Phương thức tính tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm
Đối với trường hợp người lao động làm thêm giờ vào ban đêm, cách tính lương sẽ phức tạp hơn do phải cộng dồn các khoản phụ cấp làm đêm và phụ cấp làm thêm giờ:
- Phụ cấp làm việc vào ban đêm: Người lao động làm việc vào ban đêm (khung giờ từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau) được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.
- Phụ cấp làm thêm giờ vào ban đêm: Nếu làm thêm giờ vào ban đêm, ngoài việc được trả lương theo quy định làm thêm giờ và phụ cấp làm đêm, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
Trách nhiệm thi hành của người sử dụng lao động
Để đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật, Công văn yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Xây dựng quy chế nội bộ: Doanh nghiệp có trách nhiệm cụ thể hóa phương thức tính tiền lương làm thêm giờ vào quy chế trả lương, thỏa ước lao động tập thể và công bố công khai cho toàn thể người lao động được biết.
- Minh bạch bảng lương: Khoản tiền lương làm thêm giờ phải được tách biệt rõ ràng trên bảng thanh toán tiền lương hằng tháng, thể hiện chi tiết số giờ làm thêm và đơn giá áp dụng tương ứng.
- Chịu sự thanh tra, giám sát: Doanh nghiệp phải lưu trữ đầy đủ hồ sơ, bảng chấm công làm thêm giờ để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước về lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 205/LĐTBXH-TL | Hà Nội, ngày 19 tháng 01 năm 2007 |
Kính gửi: Công ty TNHH Mabuchi motor Đà Nẵng
Trả lời công văn số 06-008/VDM-NS ngày 04 tháng 12 năm 2006 của Công ty về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương và Thông tư hướng dẫn số 14/2003/TT-BLĐTBXH-TL ngày 30/5/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và Nghị định số 109/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 195/CP nêu trên thì các trường hợp nêu trong công văn được thực hiện như sau:
1/ Công ty đã xác định chủ nhật là ngày nghỉ hàng tuần thì phải bố trí cho người lao động nghỉ. Trường hợp huy động người lao động đi làm vào ngày này và cho nghỉ bù vào ngày khác trong tuần thì vẫn coi là Công ty tổ chức làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần và phải trả ít nhất bằng 200% tiền lương thực trả của công việc đang làm. Nếu trả lương thời gian theo tháng và được nghỉ bù vào ngày khác thì chỉ phải trả phần chênh lệch là 100% tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường.
Trong tuần tiếp theo liền kề, nếu Công ty bố trí ngày nghỉ hàng tuần của người lao động là ngày chủ nhật theo thông lệ thì không trái với quy định của pháp luật lao động.
2/ Đối với những ngày nghỉ lễ, nếu Công ty tổ chức cho người lao động đi làm thì phải trả ít nhất bằng 300% tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường. Nếu trả lương thời gian theo tháng và nghỉ bù vào ngày khác thì phải trả phần chênh lệch bằng 200% tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường.
3/ Trường hợp Công ty thay đổi kế hoạch sản xuất và thay đổi ngày nghỉ hàng tuần nhưng vẫn huy động người lao động làm việc vào ngày hàng tuần mới và nghỉ bù vào ngày khác thì vẫn coi là tổ chức làm thêm giờ và phải trả tiền lương như đã nêu trên.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn số 2721/LĐTBXH-TL ngày 16/08/2002 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về tiền lương làm thêm giờ trong các doanh nghiệp nhà nước
- 2Công văn số 339/LĐTBXH-TL ngày 10/02/2004 của Bộ Lao động, thương binh và Xã hội về việc tiền lương làm thêm giờ
- 3Công văn số 1708/LĐTBXH-TL ngày 31/05/2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc tiền lương làm thêm giờ
- 1Công văn số 2721/LĐTBXH-TL ngày 16/08/2002 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về tiền lương làm thêm giờ trong các doanh nghiệp nhà nước
- 2Công văn số 339/LĐTBXH-TL ngày 10/02/2004 của Bộ Lao động, thương binh và Xã hội về việc tiền lương làm thêm giờ
- 3Công văn số 1708/LĐTBXH-TL ngày 31/05/2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc tiền lương làm thêm giờ
- 4Nghị định 195/CP năm 1994 hướng dẫn Luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
- 5Nghị định 109/2002/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 195/CP năm 1994 Hướng dẫn Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
- 6Nghị định 114/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật lao động về tiền lương
- 7Thông tư 14/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 114/2002/NĐ-CP về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
Công văn số 205/LĐTBXH-TL của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc tiền lương làm thêm giờ
- Số hiệu: 205/LĐTBXH-TL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/01/2007
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Phạm Minh Huân
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/01/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
