Công văn số 1136 TCT/ĐTNN được Tổng cục Thuế ban hành ngày 19/04/2004 nhằm hướng dẫn các cơ quan thuế địa phương và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) thực hiện thống nhất việc kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT). Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc thực tế phát sinh trong quá trình áp dụng luật thuế GTGT tại thời điểm đó.
Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh
Văn bản tập trung hướng dẫn công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Nội dung trọng tâm xoay quanh việc xác định tính hợp lệ của hóa đơn đầu vào và các điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp được thực hiện khấu trừ thuế GTGT.
Nguyên tắc kê khai và khấu trừ thuế GTGT đầu vào
- Điều kiện khấu trừ thuế: Doanh nghiệp chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
- Yêu cầu về chứng từ: Hóa đơn dùng để kê khai, khấu trừ phải là hóa đơn GTGT hợp pháp, ghi đúng và đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định như tên, địa chỉ, mã số thuế của cả bên mua và bên bán, thuế suất và tiền thuế rõ ràng.
- Thời hạn kê khai: Doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào vào tờ khai thuế của chính tháng đó. Trường hợp có hóa đơn bị bỏ sót chưa kê khai, doanh nghiệp được phép kê khai bổ sung trong thời hạn quy định (tối đa là 3 tháng kể từ thời điểm phát sinh hóa đơn theo quy định pháp luật thuế thời kỳ này).
Xử lý các trường hợp đặc biệt và sai sót trong kê khai
- Hóa đơn kê khai muộn: Đối với các hóa đơn GTGT đầu vào phát sinh vượt quá thời hạn kê khai quy định (quá 3 tháng), doanh nghiệp không được đưa vào khấu trừ thuế GTGT đầu vào mà phải hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc xử lý theo các hướng dẫn cụ thể khác của Bộ Tài chính.
- Hóa đơn không hợp lệ: Các hóa đơn không đáp ứng đủ điều kiện về mặt pháp lý như hóa đơn giả, hóa đơn của doanh nghiệp đã bỏ trốn, hoặc hóa đơn có dấu hiệu tẩy xóa, sửa chữa sẽ bị loại khỏi diện được khấu trừ và doanh nghiệp sẽ bị xử lý vi phạm hành chính về thuế.
Trách nhiệm của cơ quan thuế và doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp: Tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của số liệu kê khai trên tờ khai thuế GTGT cũng như tính hợp pháp của các hóa đơn, chứng từ dùng để khấu trừ.
- Đối với cơ quan thuế: Có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kê khai của doanh nghiệp; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi gian lận thuế, khai khống hóa đơn nhằm chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1136 TCT/ĐTNN | Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2004 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH Kao Việt Nam |
Trả lời công văn số VAT-00/CV ngày 24 tháng 10 năm 2003 của Công ty TNHH Kao Việt Nam (Công ty Kao) về việc khấu từ thuế GTGT đầu vào đối với các hoá đơn kê khai trễ hạn, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ theo quy định tại Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ Tài chính và công văn số 1804/TC/TCT ngày 5 tháng 3 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hoá đơn chậm kê khai khấu trừ quá 3 tháng, hoá đơn hợp pháp đã lập trước ngày 30 tháng 9 năm 2001; căn cứ công văn số 403/CT-ĐTNN của Cục thuế Đồng Nai báo cáo tình hình kê khai khấu từ thuế GTGT đầu vào của Công ty Kao.
Trường hợp các hoá đơn GTGT và biên lai nhập khẩu của Công ty Kao phát sinh trong thời gian từ tháng 7/2000 đến tháng 5/2001 nhưng quá 3 tháng Công ty mới tiền hành kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với số nguyên liệu nhập khẩu này thì Công ty đã vi phạm quy định về kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn nói trên, nội dung giải trình của Công ty và báo cáo của Cục thuế Đồng Nai, việc Công ty kê khai chậm là do nguyên nhân khách quan, số thuế GTGT đầu vào kê khai muộn hơn 3 tháng. Công ty đã kê khai bổ sung vào quyết toán thuế năm 2002 và Cục thuế Đồng Nai chưa kiểm tra quyết toán thuế năm 2002 đối với công ty, Tổng cục Thuế đồng ý để Công ty được kê khai tính thuế đầu vào của năm 2002 của số hoá đơn, chứng từ nộp thuế GTGT kê khai chậm nếu là hoá đơn, chứng từ hợp pháp và thoả mãn các điều kiện tại công văn 1804 TC/TCT ngày 5 tháng 3 năm 2002. Đồng thời Công ty bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định hiện hành.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty biết và liên hệ với Cục thuế tỉnh Đồng Nai để thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 1136 TCT/ĐTNN ngày 19/04/2004 của Tổng cục thuế về việc kê khai, khấu trừ thuế
- Số hiệu: 1136TCT/ĐTNN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/04/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/04/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
