Giới thiệu về Công văn số 1020/LĐTBXH-LĐVL
Công văn số 1020/LĐTBXH-LĐVL được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành ngày 05/04/2004 nhằm hướng dẫn và giải đáp các vướng mắc liên quan đến việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Lao động về chế độ trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Các nội dung cốt lõi của Công văn số 1020/LĐTBXH-LĐVL
- Điều kiện hưởng và nguyên tắc chi trả trợ cấp thôi việc
- Người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật thì được hưởng trợ cấp thôi việc.
- Mức trợ cấp thôi việc được xác định là mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có).
- Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được hưởng trợ cấp thôi việc.
- Cách tính thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động đó.
- Thời gian làm việc thực tế bao gồm cả thời gian thử việc, thời gian học nghề, tập nghề tại doanh nghiệp nếu sau đó tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp.
- Các khoảng thời gian người lao động nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hàng năm có hưởng lương theo quy định cũng được tính vào thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc.
- Thời gian làm việc có tháng lẻ được làm tròn như sau: Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm làm việc; từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng được tính tròn là 01 năm làm việc.
- Xác định tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
- Tiền lương này bao gồm lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có) theo quy định của pháp luật lao động tại thời điểm đó.
- Trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc trong các trường hợp đặc biệt
- Đối với các trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp hoặc chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm kế thừa và chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đối với cả thời gian người lao động làm việc ở doanh nghiệp trước đó.
- Trường hợp người lao động chuyển công tác giữa các đơn vị trong cùng một tổng công ty hoặc hệ thống tổ chức, việc tính và chi trả trợ cấp thôi việc phải tuân thủ nguyên tắc liên tục hoặc được tất toán tại từng đơn vị tùy thuộc vào thỏa thuận và hồ sơ chuyển giao nhân sự cụ thể.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1020/LĐTBXH-LĐVL | Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2004 |
Kính gửi: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh
Trả lời công văn số 847/LĐ-TBXH ngày 22 tháng 03 năm 2004 của Quý Sở về việc ghi ở trích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo Luật Doanh nghiệp là một pháp nhân độc lập. Do vậy, công ty cổ phần (DNNN đã cổ phần hoá) không Điều chuyển người lao động sang công ty trách nhiệm hữu hạn làm việc. Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, công ty cổ phần chấm dứt hợp đồng lao động để người lao động giao kết hợp đồng lao động mới với công ty trách nhiệm hữu hạn. Khi chấm dứt hợp đồng lao động, công ty cổ phần có thể đề nghị Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước xem xét hỗ trợ phần kinh phí trợ cấp thôi việc theo quy định của Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ.
2. Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, công ty cổ phần không Điều chuyển người lao động sang công ty trách nhiệm hữu hạn mà thực hiện theo trình tự như nêu trên. Khi chấm dứt hợp đồng lao động công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho những người lao động này tính đến thời Điểm chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty cổ phần theo quy định của Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ. Chế độ trợ cấp thôi việc cho thời gian làm việc thực tế ở công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng quy định.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |
Công văn số 1020/LĐTBXH-LĐVL ngày 05/04/2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc trợ cấp thôi việc cho người lao động
- Số hiệu: 1020/LĐTBXH-LĐVL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 05/04/2004
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Nguyễn Đại Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 05/04/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
