Công văn 837/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ được Tổng cục Quản lý đất đai ban hành nhằm chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) đã cấp trái pháp luật hoặc có sai sót tại các địa phương.
Bối cảnh và thực trạng dẫn đến việc ban hành công vănTrong thời gian qua, qua công tác thanh tra, kiểm tra và phản ánh của dư luận, Tổng cục Quản lý đất đai nhận thấy tại một số địa phương đã xảy ra tình trạng lạm dụng việc hủy Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định pháp luật. Việc thu hồi, hủy Giấy chứng nhận không tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu kiện phức tạp.
Các yêu cầu trọng tâm nhằm tăng cường quản lý việc hủy Giấy chứng nhậnĐể khắc phục tình trạng nêu trên, Tổng cục Quản lý đất đai yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung triển khai các biện pháp sau:
- Thực hiện nghiêm quy trình thu hồi, hủy Giấy chứng nhận: Việc thu hồi và hủy Giấy chứng nhận đã cấp phải tuân thủ tuyệt đối theo quy định tại Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 01/2017/NĐ-CP). Chỉ thực hiện hủy Giấy chứng nhận khi có căn cứ pháp lý rõ ràng và đúng thẩm quyền.
- Xác định rõ các trường hợp được phép thu hồi, hủy bỏ: Cơ quan có thẩm quyền chỉ được thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp cụ thể như: Nhà nước thu hồi đất; người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; cấp đổi Giấy chứng nhận; có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; hoặc khi phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng diện tích đất...
- Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành quyết định hủy Giấy chứng nhận: Trường hợp người sử dụng đất không nộp lại Giấy chứng nhận đã bị thu hồi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, Văn phòng đăng ký đất đai phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận để ban hành quyết định hủy Giấy chứng nhận đó và thông báo công khai trên trang thông tin điện tử.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát: Sở Tài nguyên và Môi trường cần chủ động tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với việc cấp, thu hồi và hủy Giấy chứng nhận tại các quận, huyện, thị xã. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm, lạm quyền hoặc thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hướng dẫn nghiệp vụ: Tổ chức tập huấn, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý đất đai tại địa phương, đặc biệt là Văn phòng đăng ký đất đai và các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai để thống nhất nhận thức và phương thức thực hiện.
Công văn 837/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập lại trật tự, kỷ cương trong công tác cấp và quản lý Giấy chứng nhận. Việc siết chặt quy trình hủy Giấy chứng nhận giúp bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người dân, hạn chế tối đa các tranh chấp đất đai kéo dài, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai tại các địa phương trên cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI NGUYÊN VÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 837/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ | Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2021 |
Kính gửi: Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thực hiện quy định tại Khoản 7 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai đã có Công văn số 304/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 03/3/2015 yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố báo cáo danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy. Trong thời gian qua, cơ bản các địa phương đã gửi danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy về Tổng cục Quản lý đất đai để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tiếp cận với các thông tin này, góp phần tránh rủi ro khi thực hiện các giao dịch về đất đai, tài sản gắn liền với đất.
Qua quá trình theo dõi, tổng hợp thông tin các địa phương gửi về cho thấy việc hủy Giấy chứng nhận đã cấp tập trung ở một số trường hợp như:
(1) Do bị mất;
(2) Do người sử dụng đất không giao nộp Giấy chứng nhận trong các trường hợp: (i) Nhà nước thu hồi đất; (ii) Thi hành án; (iii) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật; (iv) Đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định;
(3) Bên cạnh đó, có một số địa phương gửi danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy và không nêu lý do hủy.
Để phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo tính minh bạch thông tin cho các tổ chức, cá nhân tiếp cận thông tin về Giấy chứng nhận bị hủy, Tổng cục Quản lý đất đai yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các công việc sau:
1. Đối với các Thông báo hoặc Quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp
Đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường khi lập danh sách Giấy chứng nhận bị hủy, ngoài các thông tin về tên người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất; số seri Giấy chứng nhận; số vào sổ cấp Giấy chứng nhận; ngày, tháng năm ký cấp; số thửa; số tờ bản đồ; diện tích; mục đích; địa chỉ thửa đất; số quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp thì cần nêu rõ lý do thu hồi, hủy Giấy chứng nhận.
2. Đối với việc hủy Giấy chứng nhận đã cấp do bị mất
Tổng cục Quản lý đất đai đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo cơ quan tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận bị mất (Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai) khi tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục thì yêu cầu người đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận kê khai rõ lý do mất Giấy chứng nhận tại điểm 3 Mục I của Mẫu đơn số 10/ĐK ban hành kèm theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT; người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung đã kê khai trên Đơn, hạn chế việc tùy tiện khai báo mất Giấy chứng nhận dẫn đến tiềm ẩn rủi ro đối với các trường hợp cố tình khai báo sai.
3. Đối với các trường hợp hủy Giấy chứng nhận khác
3.1. Đối với trường hợp chuyển quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo cơ quan tiếp nhận hồ sơ chỉ tiếp nhận khi đủ thành phần hồ sơ theo quy định, tránh trường hợp pháp luật quy định hồ sơ nộp phải có Giấy chứng nhận đã cấp của bên chuyển quyền nhưng người yêu cầu giải quyết thủ tục không nộp Giấy chứng nhận và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận đã cấp.
3.2. Đối với trường hợp quyết định hủy Giấy chứng nhận, trong đó có nội dung hủy một phần diện tích trong Giấy chứng nhận đã cấp, lý do là người sử dụng đất không giao nộp Giấy chứng nhận để thi hành án
Pháp luật đất đai chỉ có quy định hủy Giấy chứng nhận trong các trường hợp:
(i) Hủy Giấy chứng nhận do bị mất (Khoản 3 Điều 77 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP);
(ii) Hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp đăng ký, cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định (Khoản 2 Điều 82 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP);
(iii) Hủy Giấy chứng nhận đối với trường hợp phải thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp (Khoản 7 Điều 87 của nghị định số 43/2014/NĐ-CP): Nhà nước thu hồi đất; thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận, đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp Giấy chứng nhận; Giấy chứng nhận bị thu hồi do cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai; thu hồi Giấy chứng nhận do thực hiện bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân đã được thi hành mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận.
Theo quy định tại Điều 17 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT, trường hợp chuyển quyền sử dụng một phần diện tích thửa đất, một phần tài sản gắn liền với đất đã được cấp Giấy chứng nhận thì bên chuyển quyền được xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc cấp mới Giấy chứng nhận đối với phần diện tích còn lại nếu người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu.
Như vậy, pháp luật đất đai không có quy định hủy một phần diện tích trong Giấy chứng nhận đã cấp.
Căn cứ các quy định nêu trên thì việc quyết định hủy một phần diện tích trong Giấy chứng nhận đã cấp là không phù hợp với quy định của pháp luật, không hủy bỏ được giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận, dẫn đến rủi ro khi Giấy chứng nhận đã cấp vẫn còn tồn tại.
Tổng cục Quản lý đất đai đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm tra, rà soát từng trường hợp cụ thể, trong trường hợp thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai quy định tại Khoản 5 Điều 9 của Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT (được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 3 Điều 7 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT) mà phải thực hiện quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã có hiệu lực thi hành hoặc thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo yêu cầu của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án nhưng không thu hồi được bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp do người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì thực hiện việc hủy đối với Giấy chứng nhận đã cấp; cấp lại Giấy chứng nhận cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 97 của Luật Đất đai và Khoản 8 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; chỉ đạo cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai. Việc cấp lại Giấy chứng nhận phải đảm bảo diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tránh rủi ro, khiếu kiện phát sinh trên địa bàn.
4. Khi thực hiện thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại Khoản 7 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm lập đầy đủ danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy gửi Tổng cục Quản lý đất đai để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử.
Tổng cục Quản lý đất đai đề nghị các Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo thực hiện theo đúng các yêu cầu trên đây, đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật./.
|
| TUQ. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 1037/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ năm 2020 về cấp Giấy chứng nhận cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 2Công văn 796/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ năm 2020 về giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với dự án đã trúng đấu thầu dự án có sử dụng đất tại tỉnh Lào Cai do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 3Công văn 2400/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ năm 2020 về giải đáp vướng mắc trong công tác cấp Giấy chứng nhận do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 1Luật đất đai 2013
- 2Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
- 3Thông tư 23/2014/TT-BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 4Thông tư 24/2014/TT-BTNMT về hồ sơ địa chính do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 5Thông tư 33/2017/TT-BTNMT về hướng dẫn Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi nghị định hướng dẫn Luật đất đai và sửa đổi thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 6Công văn 1037/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ năm 2020 về cấp Giấy chứng nhận cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 7Công văn 796/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ năm 2020 về giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với dự án đã trúng đấu thầu dự án có sử dụng đất tại tỉnh Lào Cai do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 8Công văn 2400/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ năm 2020 về giải đáp vướng mắc trong công tác cấp Giấy chứng nhận do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
Công văn 837/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ năm 2021 tăng cường biện pháp quản lý việc hủy Giấy chứng nhận đã cấp do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- Số hiệu: 837/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 11/05/2021
- Nơi ban hành: Tổng cục Quản lý đất đai
- Người ký: Phạm Thị Thịnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/05/2021
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
