Tóm tắt Công văn 729/BTP-BTTP năm 2017 về xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng
Công văn 729/BTP-BTTP được Bộ Tư pháp ban hành nhằm đôn đốc, hướng dẫn các địa phương đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu này. Đây là bước đi quan trọng nhằm triển khai đồng bộ Luật Công chứng năm 2014, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.
Mục đích và ý nghĩa của việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng theo hướng dẫn tại Công văn 729/BTP-BTTP hướng tới các mục tiêu cốt lõi sau:
- Phòng ngừa rủi ro pháp lý: Giúp các tổ chức hành nghề công chứng dễ dàng tra cứu thông tin về tình trạng ngăn chặn, giao dịch của tài sản, tránh tình trạng một tài sản bị mua bán, thế chấp nhiều lần tại các tổ chức khác nhau.
- Nâng cao hiệu quả quản lý: Giúp Sở Tư pháp và các cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ hoạt động công chứng, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật hoặc giả mạo giấy tờ.
- Hiện đại hóa hoạt động công chứng: Thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bổ trợ tư pháp, hướng tới xây dựng chính quyền điện tử.
Nhiệm vụ trọng tâm của Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Bộ Tư pháp yêu cầu Sở Tư pháp các địa phương tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tham mưu xây dựng cơ sở dữ liệu: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt chủ trương, kinh phí và phương án kỹ thuật để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương.
- Xây dựng Quy chế khai thác và sử dụng: Soạn thảo và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng, bảo đảm tính pháp lý và sự thống nhất trong vận hành.
- Kết nối thông tin: Đảm bảo hệ thống được kết nối thông suốt giữa Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng và Văn phòng công chứng) và các cơ quan liên quan như cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan thi hành án dân sự.
Yêu cầu đối với Quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng
Quy chế do các địa phương ban hành cần phải làm rõ các nội dung quan trọng sau:
- Phân quyền truy cập: Xác định rõ đối tượng được quyền truy cập, mức độ khai thác thông tin của từng nhóm đối tượng (công chứng viên, nhân viên nghiệp vụ, cơ quan quản lý nhà nước).
- Quy trình cập nhật thông tin: Quy định cụ thể thời hạn, trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng trong việc cập nhật thông tin ngăn chặn, thông tin về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng vào hệ thống.
- Bảo mật và an toàn thông tin: Đề ra các biện pháp kỹ thuật và pháp lý để bảo vệ bí mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật, ngăn chặn các hành vi truy cập trái phép hoặc làm sai lệch dữ liệu.
Tổ chức thực hiện và chế độ báo cáo
Để bảo đảm tính khả thi và tiến độ triển khai, Bộ Tư pháp đưa ra các chỉ đạo cụ thể:
- Sự phối hợp liên ngành: Sở Tư pháp cần chủ động phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Tài chính để bảo đảm hạ tầng kỹ thuật và nguồn kinh phí thực hiện.
- Chế độ báo cáo định kỳ: Các địa phương có trách nhiệm báo cáo kết quả triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu và ban hành quy chế về Bộ Tư pháp (qua Cục Bổ trợ tư pháp) để tổng hợp, theo dõi và giải quyết các vướng mắc phát sinh.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 729/BTP-BTTP | Hà Nội, ngày 09 tháng 03 năm 2017 |
Kính gửi: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thực hiện Luật công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thời gian vừa qua, một số Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân) đã quan tâm chỉ đạo thực hiện quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương. Tuy nhiên, một số địa phương vẫn chưa triển khai thực hiện quy định nêu trên.
Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Luật công chứng năm 2014, Bộ Tư pháp trân trọng đề nghị Ủy ban nhân dân quan tâm chỉ đạo một số nội dung như sau:
1. Về việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng
- Về trách nhiệm chỉ đạo, thực hiện: Theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật công chứng năm 2014 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng. Quy định này nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương có liên quan đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị tại địa phương về kinh phí, chuyên môn, kỹ thuật công nghệ thông tin..., do vậy, Ủy ban nhân dân xem xét chỉ đạo Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thi hành án dân sự, Hội công chứng viên (ở những nơi đã thành lập)... kịp thời tham mưu, đề xuất trình Ủy ban nhân dân xem xét, quyết định xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương.
- Về nội dung cơ sở dữ liệu công chứng, quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng: Việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng cần tính toán đến an toàn, bảo mật, thuận tiện khi khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu, khả năng kết nối cơ sở dữ liệu với hệ thống thông tin đất đai, nhà ở... Đối với quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng cần tập trung vào một số vấn đề chủ yếu như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, cung cấp, cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu với trách nhiệm trong khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu.
- Về kinh phí xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng: Theo quy định của Luật công chứng năm 2014 thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng. Do đó, tùy vào điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân xem xét chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tham mưu, đề xuất bố trí từ nguồn ngân sách địa phương hoặc bằng nguồn kinh phí xã hội hóa, huy động sự đóng góp của các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên... để xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng tại địa phương, về lâu dài, có thể nghiên cứu, xem xét đến phương án thu kinh phí khai thác, sử dụng từ các tổ chức, cá nhân để vận hành, duy trì, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở dữ liệu công chứng.
2. Về việc sửa đổi, bổ sung cơ sở dữ liệu công chứng và quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng
Đối với các địa phương đã có cơ sở dữ liệu công chứng và đã thực hiện chia sẻ thông tin trong hoạt động công chứng giữa các cơ quan, tổ chức trong phạm vi địa phương, Ủy ban nhân dân xem xét chỉ đạo Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành ở địa phương, Hội công chứng viên (ở những nơi đã thành lập) rà soát, tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung để phù hợp với quy định của Luật công chứng năm 2014 về nội dung cơ sở dữ liệu công chứng (bao gồm các thông tin về nguồn gốc tài sản, tình trạng giao dịch của tài sản và các thông tin về biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với tài sản có liên quan đến hợp đồng, giao dịch đã được công chứng) và thực tiễn hoạt động công chứng tại địa phương.
3. Bên cạnh việc triển khai xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung cơ sở dữ liệu công chứng và quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng, đề nghị Ủy ban nhân dân tiếp tục quan tâm chỉ đạo để bảo đảm sự chia sẻ thông tin đầy đủ, kịp thời giữa Sở Tư pháp với các cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương (theo Quyết định số 2153/QĐ-BTP ngày 27/8/2013 của Bộ Tư pháp ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa Cơ quan Tư pháp và Cơ quan Thi hành án dân sự địa phương và Công văn số 2656/BTP-TCTHADS ngày 09/8/2016 của Bộ Tư pháp về việc cung cấp thông tin đối với tài sản kê biên để đảm bảo thi hành án).
Trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị Ủy ban nhân dân, Sở Tư pháp kịp thời phản ánh về Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành có liên quan để xem xét tháo gỡ.
Bộ Tư pháp trân trọng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quan tâm, thực hiện./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Quyết định 132/QĐ-TTg năm 2017 phê duyệt Đề án thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Công văn 1881/VPCP-ĐMDN năm 2017 không đưa Phòng công chứng vào danh mục chuyển thành công ty cổ phần do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Công văn 933/BTP-BTTP năm 2017 về không đưa Phòng công chứng vào danh mục chuyển thành công ty cổ phần do Bộ Tư pháp ban hành
- 1Quyết định 2153/QĐ-BTP năm 2013 Quy chế phối hợp công tác giữa Cơ quan Tư pháp và Thi hành án dân sự địa phương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 2Luật Công chứng 2014
- 3Quyết định 132/QĐ-TTg năm 2017 phê duyệt Đề án thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Công văn 1881/VPCP-ĐMDN năm 2017 không đưa Phòng công chứng vào danh mục chuyển thành công ty cổ phần do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 5Công văn 933/BTP-BTTP năm 2017 về không đưa Phòng công chứng vào danh mục chuyển thành công ty cổ phần do Bộ Tư pháp ban hành
Công văn 729/BTP-BTTP năm 2017 xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và ban hành quy chế khai thác sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 729/BTP-BTTP
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 09/03/2017
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Trần Tiến Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/03/2017
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
