Công văn 5546/TCHQ-TXNK được Tổng cục Hải quan ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc liên quan đến chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thống nhất thực hiện việc kiểm tra, xác định tính hợp lệ của chứng từ thanh toán khi giải quyết thủ tục hoàn thuế, không thu thuế hoặc kiểm tra sau thông quan.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với cơ quan hải quan các cấp, công chức hải quan thực hiện nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ thuế, kiểm tra sau thông quan và các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu có phát sinh vướng mắc về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để hưởng các ưu đãi thuế hoặc hoàn thuế theo quy định.
Quy định về tính hợp lệ của chứng từ thanh toán qua ngân hàng
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện rõ việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua (hoặc bên nhập khẩu) sang tài khoản của bên bán (hoặc bên xuất khẩu) theo đúng thông tin trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại.
- Tên, số tài khoản của người trả tiền và người thụ hưởng phải trùng khớp với các thông tin đã đăng ký và thể hiện trên hồ sơ hải quan. Trường hợp có sự khác biệt, doanh nghiệp phải xuất trình tài liệu giải trình hợp lý và hợp pháp để cơ quan hải quan xem xét.
Xử lý trường hợp thanh toán qua bên thứ ba
- Trường hợp việc thanh toán được thực hiện thông qua một bên thứ ba (bên được ủy quyền hoặc chỉ định), điều khoản này phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán gốc hoặc phụ lục hợp đồng đính kèm trước thời điểm thanh toán.
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong trường hợp này phải chứng minh được dòng tiền chuyển từ bên mua sang bên thứ ba và từ bên thứ ba sang bên bán, đảm bảo tính minh bạch, hợp pháp và không có dấu hiệu gian lận thương mại.
Hướng dẫn đối với phương thức thanh toán bù trừ
- Đối với hình thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu hoặc bù trừ công nợ dịch vụ, doanh nghiệp phải có văn bản thỏa thuận bù trừ công nợ giữa các bên theo đúng quy định pháp luật.
- Sau khi thực hiện bù trừ, phần chênh lệch còn lại (nếu có) phải được thanh toán qua ngân hàng và có chứng từ thanh toán hợp lệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
Trách nhiệm của cơ quan hải quan và doanh nghiệp
- Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra đối chiếu kỹ lưỡng chứng từ thanh toán với hồ sơ hải quan, hóa đơn thương mại và thực tế dòng tiền. Trong trường hợp nghi ngờ, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu doanh nghiệp giải trình hoặc phối hợp với ngân hàng thương mại để xác minh thông tin dòng tiền thực tế.
- Doanh nghiệp có trách nhiệm lưu trữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán, sổ sách kế toán liên quan và xuất trình kịp thời khi có yêu cầu kiểm tra, thanh tra của cơ quan hải quan, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các chứng từ đã xuất trình.
Hiệu lực thi hành
Công văn 5546/TCHQ-TXNK có hiệu lực hướng dẫn thực hiện ngay từ ngày ban hành. Các quy định trong công văn này được áp dụng thống nhất tại tất cả các Chi cục Hải quan và Cục Hải quan địa phương trên cả nước, giải quyết dứt điểm các vướng mắc phát sinh trong quá trình kiểm tra chứng từ thanh toán của doanh nghiệp.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5546/TCHQ-TXNK | Hà Nội, ngày 22 tháng 09 năm 2010 |
Kính gửi: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 492/HQĐL - NV ngày 27/8/2010 của Cục Hải quan tỉnh Đắk Lắk phản ánh về việc vướng mắc chứng từ thanh toán trong hồ sơ thanh khoản, hoàn thuế khi một số ngân hàng không phát hành giấy báo có mà in bản Swift có ký, đóng dấu xác nhận của ngân hàng. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan xin trao đổi với Quý cơ quan một số nội dung sau:
1. Căn cứ quy định tại Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính thì chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá xuất khẩu là một trong những chứng từ của bộ hồ sơ hoàn thuế hoặc không thu thuế.
2. Căn cứ quy định tại phụ lục 1, Thông tư số 79/2010/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính thì: "Chứng từ thanh toán là chứng từ của Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu báo cho người xuất khẩu đã nhận được tiền hàng xuất khẩu". Tuy nhiên một số ngân hàng không phát hành giấy báo có mà in bản Switl có ký, đóng dấu xác nhận của Ngân hàng và gửi cho người xuất khẩu 01 bản. Bản Switt doanh nghiệp nộp trong hồ sơ thanh khoản, hoàn thuế cũng thể hiện đầy đủ các nội dung như số tiền, số hợp đồng, tên người xuất khẩu như giấy báo có. Qua tham khảo ý kiến của Ngân hàng, nơi phát hành bản Swift nói trên thì trong một số trường hợp nếu doanh nghiệp không yêu cầu phát hành giấy báo có thì Ngân hàng sử dụng luôn bản Swift thay giấy báo có.
Để có cơ sở hướng dẫn Hải quan địa phương thực hiện thống nhất, đúng quy định, đề nghị Ngân hàng Nhà nước có ý kiến bằng văn bản về việc có thể xem bản Swift là chứng từ thanh toán qua ngân hàng để làm cơ sở thanh khoản, hoàn thuế cho doanh nghiệp.
Tổng cục Hải quan mong sớm nhận được ý kiến của Quý cơ quan./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 79/2009/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 2Công văn 2206/TCT-CS về chứng từ thanh toán trong nội bộ doanh nghiệp do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 6008/TCHQ-TXNK vướng mắc chứng từ thanh toán do Tổng cục Hải quan ban hành
- 4Công văn số 2909/TCHQ-KTTT về vướng mắc chứng từ thanh toán do Tổng cục Hải quan ban hành
Công văn 5546/TCHQ-TXNK vướng mắc chứng từ thanh toán do Tổng cục Hải quan ban hành
- Số hiệu: 5546/TCHQ-TXNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/09/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Hoàng Việt Cường
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/09/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
