Giới thiệu về Công văn 5361/TCT-DNNCN năm 2018
Công văn 5361/TCT-DNNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản trợ cấp, hỗ trợ mà người lao động nhận được khi chấm dứt hợp đồng lao động. Văn bản này giúp làm rõ ranh giới giữa các khoản thu nhập được miễn thuế và các khoản thu nhập phải chịu thuế, đồng thời hướng dẫn phương thức khấu trừ thuế đối với từng trường hợp cụ thể.
Quy định về thuế TNCN đối với trợ cấp theo Luật Lao động
Theo hướng dẫn tại Công văn 5361/TCT-DNNCN, các khoản trợ cấp được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Lao động sẽ có chính sách thuế riêng biệt:
- Khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được chi trả đúng theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
- Mức chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm làm căn cứ miễn thuế được xác định dựa trên thời gian làm việc thực tế và mức lương bình quân theo quy định pháp luật lao động hiện hành.
Chính sách thuế đối với khoản hỗ trợ tài chính ngoài quy định pháp luật
Đối với các khoản tiền mà người sử dụng lao động chi trả thêm cho người lao động ngoài mức quy định của Bộ luật Lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động:
- Các khoản hỗ trợ tài chính, trợ cấp tự nguyện, hoặc các khoản chi thêm ngoài quy định bắt buộc của Luật Lao động đều được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN.
- Toàn bộ phần chi vượt mức quy định hoặc các khoản hỗ trợ thêm này không được hưởng chính sách miễn thuế TNCN và phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.
Phương thức khấu trừ thuế TNCN khi chi trả trợ cấp
Công văn 5361/TCT-DNNCN hướng dẫn chi tiết về thời điểm và phương thức khấu trừ thuế đối với các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng lao động:
- Trường hợp khoản chi trả được thực hiện sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động: Nếu tổng mức chi trả từ 2.000.000 đồng trở lên cho mỗi lần chi trả (hoặc tổng thu nhập), doanh nghiệp phải khấu trừ thuế TNCN theo thuế suất 10% trên toàn bộ thu nhập chịu thuế trước khi thanh toán cho người lao động.
- Trường hợp khoản chi trả được thực hiện trong thời gian hợp đồng lao động vẫn còn hiệu lực: Khoản thu nhập này sẽ được cộng gộp vào thu nhập từ tiền lương, tiền công trong tháng và thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.
- Người lao động có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì có thể làm cam kết theo mẫu quy định để tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN.
Ý nghĩa và lưu ý áp dụng đối với doanh nghiệp và người lao động
Việc áp dụng đúng hướng dẫn tại Công văn 5361/TCT-DNNCN giúp các doanh nghiệp tránh được rủi ro pháp lý về thuế khi quyết toán:
- Doanh nghiệp cần phân tách rõ ràng trên chứng từ và quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đâu là khoản trợ cấp theo luật định và đâu là khoản hỗ trợ thêm của doanh nghiệp.
- Người lao động cần nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ thuế của mình đối với các khoản nhận được khi nghỉ việc để thực hiện quyết toán thuế TNCN cuối năm một cách chính xác.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5361/TCT-DNNCN | Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2018 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Long An
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 2177/CT-TNCN ngày 10/9/2018 của Cục thuế tỉnh Long An đề nghị hướng dẫn về việc xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân trên khoản trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động. Về vấn đề này, sau khi lấy ý kiến Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Điểm b, Khoản 2, Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
...b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau:
...b.6) Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, mức hưởng chế độ thai sản, mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.
...Các khoản phụ cấp, trợ cấp và mức phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế hướng dẫn tại điểm b, khoản 2, Điều này phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Trường hợp các văn bản hướng dẫn về các khoản phụ cấp, trợ cấp, mức phụ cấp, trợ cấp áp dụng đối với khu vực Nhà nước thì các thành phần kinh tế khác, các cơ sở kinh doanh khác được căn cứ vào danh mục và mức phụ cấp, trợ cấp hướng dẫn đối với khu vực Nhà nước để tính trừ.
Trường hợp khoản phụ cấp, trợ cấp nhận được cao hơn mức phụ cấp, trợ cấp theo hướng dẫn nêu trên thì phần vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế.”
Ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội tại công văn số 5183/LĐTBXH-QHLĐTL ngày 10/12/2018 về khoản trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động:
“1. Ông Yamada Kohei ký hợp đồng lao động với Công ty Kyodo Shiryo Company Limited (hiện nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn Feed One) ở Nhật Bản theo pháp luật lao động Nhật Bản từ ngày 01/4/1983 đến ngày 01/4/2017, trong đó có thời gian từ ngày 23/12/2011 đến 01/4/2017 ông Yamada Kohei được Công ty TNHH Feed One cử biệt phái sang làm việc tại Công ty TNHH Thức ăn chăn nuôi Kyodo Soijtz (trụ sở tại Long An). Quan hệ lao động giữa ông Yamada Kohei và Công ty trách nhiệm hữu hạn Feed One không thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật lao động Việt Nam.
2. Căn cứ vào thông báo chấm dứt hợp đồng lao động ngày 01/4/2017 và bảng chi tiết lương thưởng khi nghỉ việc thì khoản tiền Công ty trách nhiệm hữu hạn Feed One (Nhật Bản) chi trả cho ông Yamada Kohei khi chấm dứt hợp đồng lao động với lý do được bổ nhiệm vào ban điều hành là khoản tiền trợ cấp khi nghỉ việc, không phải là trợ cấp thôi việc theo pháp luật lao động Việt Nam.”
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội tại công văn số 5183/LĐTBXH-QHLĐTL ngày 10/12/2018 và hồ sơ của người nộp thuế, quan hệ lao động giữa ông Yamada Kohei và Công ty TNHH Feed One không thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật lao động Việt Nam và khoản tiền trợ cấp do Công ty TNHH Feed One chi trả cho ông Yamada Kohei khi chấm dứt hợp đồng lao động với lý do được bổ nhiệm vào ban điều hành là khoản tiền trợ cấp khi nghỉ việc, không phải là trợ cấp thôi việc theo pháp luật lao động Việt Nam.
- Trường hợp khoản tiền trợ cấp nêu trên là khoản trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật lao động Nhật Bản và không vượt quá mức quy định của pháp luật lao động Nhật Bản về trợ cấp thôi việc thì không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của ông Yamada Kohei.
- Trường hợp khoản tiền trợ cấp nêu trên là khoản trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật lao động Nhật Bản và vượt quá mức quy định của pháp luật lao động Nhật Bản về trợ cấp thôi việc thì phần vượt tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của ông Yamada Kohei.
- Trường hợp khoản tiền trợ cấp nêu trên không phải là khoản trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật lao động Nhật Bản thì tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của ông Yamada Kohei.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế tỉnh Long An được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 3339/TCT-CS chi phí tiền lương và các khoản khác như chi phí bảo hộ lao động có ghi trong hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 5239/TCT-TNCN thuế Thu nhập cá nhân đối với lao động thời vụ dưới 03 tháng, không ký hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 5918/TCT-TNCN năm 2016 về chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thanh toán khi chấm dứt hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 5359/TCT-DNNCN năm 2018 về Thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng chứng khoán do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 1352/TCT-DNNCN năm 2019 về chính sách thuế đối với khoản trợ cấp cho nhân viên thôi việc cao hơn mức quy định do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 5300/TCT-DNNCN năm 2018 về chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với khoản trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Công văn 482/CVL-BHTN năm 2019 về chấm dứt hợp đồng lao động do Cục Việc làm ban hành
- 1Công văn 3339/TCT-CS chi phí tiền lương và các khoản khác như chi phí bảo hộ lao động có ghi trong hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 5239/TCT-TNCN thuế Thu nhập cá nhân đối với lao động thời vụ dưới 03 tháng, không ký hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Bộ Luật lao động 2012
- 4Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 5Luật Bảo hiểm xã hội 2014
- 6Công văn 5918/TCT-TNCN năm 2016 về chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thanh toán khi chấm dứt hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Công văn 5359/TCT-DNNCN năm 2018 về Thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng chứng khoán do Tổng cục Thuế ban hành
- 8Công văn 1352/TCT-DNNCN năm 2019 về chính sách thuế đối với khoản trợ cấp cho nhân viên thôi việc cao hơn mức quy định do Tổng cục Thuế ban hành
- 9Công văn 5300/TCT-DNNCN năm 2018 về chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với khoản trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 10Công văn 482/CVL-BHTN năm 2019 về chấm dứt hợp đồng lao động do Cục Việc làm ban hành
Công văn 5361/TCT-DNNCN năm 2018 về thuế thu nhập cá nhân trên khoản trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 5361/TCT-DNNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 27/12/2018
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Duy Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/12/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
