Giới thiệu chung về Công văn 5331/BGTVT-VT năm 2024
Công văn 5331/BGTVT-VT được Bộ Giao thông vận tải ban hành năm 2024 nhằm tham gia ý kiến chuyên môn về việc quản lý, sử dụng và hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến vận đơn (đặc biệt là vận đơn đường biển và vận đơn điện tử). Đây là văn bản có vai trò quan trọng trong việc định hình khung pháp lý, thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành dịch vụ logistics và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải đa phương thức.
Bản chất pháp lý và vai trò của vận đơn theo quan điểm của Bộ Giao thông vận tải
Bộ Giao thông vận tải nhấn mạnh việc làm rõ các thuộc tính pháp lý cốt lõi của vận đơn theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên:
- Bằng chứng của hợp đồng vận chuyển: Vận đơn là chứng từ xác nhận việc thiết lập quan hệ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển hoặc đường thủy nội địa giữa người thuê vận chuyển và người vận chuyển.
- Biên nhận nhận hàng: Xác nhận việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa từ người gửi hàng với số lượng, chủng loại, mã ký hiệu và tình trạng bên ngoài tương ứng để vận chuyển đến điểm đích.
- Chứng từ sở hữu hàng hóa: Khẳng định giá trị pháp lý của vận đơn trong việc định đoạt, chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa trong quá trình vận chuyển thông qua các hình thức ký hậu vận đơn.
Định hướng thúc đẩy và pháp lý hóa vận đơn điện tử (E-Bill of Lading)
Trước xu hướng số hóa mạnh mẽ của ngành logistics toàn cầu, Bộ Giao thông vận tải đã đưa ra các ý kiến đóng góp quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho vận đơn điện tử:
- Thừa nhận giá trị pháp lý tương đương: Đề xuất các cơ quan quản lý chuyên ngành (đặc biệt là cơ quan Hải quan và Thuế) chấp nhận vận đơn điện tử có giá trị pháp lý tương đương vận đơn giấy truyền thống trong mọi giao dịch hành chính và thông quan.
- Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ: Kiến nghị thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo mật thông tin và chữ ký số đối với vận đơn điện tử nhằm ngăn ngừa rủi ro giả mạo, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia chuỗi cung ứng.
- Hội nhập thông lệ quốc tế: Khuyến khích việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế về vận đơn điện tử của các tổ chức uy tín như FIATA, BIMCO nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam.
Tăng cường phối hợp liên ngành trong quản lý và giám sát vận đơn
Để tối ưu hóa quy trình quản lý nhà nước và giảm thiểu gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, Bộ Giao thông vận tải đề xuất các giải pháp phối hợp liên ngành:
- Kết nối và chia sẻ dữ liệu: Xây dựng cơ chế kết nối thông tin trực tuyến giữa hệ thống của các hãng tàu, doanh nghiệp cảng biển, cơ quan quản lý cảng vụ hàng hải và cơ quan hải quan để kiểm soát luồng hàng hóa dựa trên dữ liệu vận đơn số.
- Cải cách thủ tục kiểm tra hành chính: Hạn chế tối đa việc yêu cầu doanh nghiệp xuất trình vận đơn giấy trong các bước kiểm tra không cần thiết, chuyển dần sang phương thức hậu kiểm dựa trên cơ sở dữ liệu dùng chung.
- Giải quyết tranh chấp phát sinh: Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự của người vận chuyển, người nhận hàng và các bên liên quan khi xảy ra tranh chấp về việc giao nhận hàng hóa bằng vận đơn.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản đối với ngành logistics và vận tải
Ý kiến đóng góp tại Công văn 5331/BGTVT-VT là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về hải quan, thuế và thương mại điện tử. Việc chuẩn hóa quy định về vận đơn giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian thông quan, nâng cao năng lực cạnh tranh của đội tàu biển Việt Nam và thúc đẩy sự phát triển bền vững của chuỗi cung ứng quốc gia.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5331/BGTVT-VT | Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2024 |
Kính gửi: Tổng cục Thuế
Bộ Giao thông vận tải nhận được Công văn số 1820/TCT-CS ngày 02/5/2024 của Tổng cục thuế về vận đơn quốc tế trong vận chuyển đường biển và vận chuyển hàng không. Sau khi nghiên cứu, Bộ Giao thông vận tải có ý kiến như sau:
1. Đối với vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
Liên quan đến nội dung vận đơn đường biển, Cục Hàng hải Việt Nam đã có văn bản số 218/CHHVN-VT&DVHH ngày 19/01/2012 gửi Tổng cục Thuế, trong đó nêu rõ căn cứ các quy định tại Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005: Việc doanh nghiệp xuất trình vận đơn đường biển thay thế hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài về Việt Nam trong phương thức thuê tàu chợ là phù hợp với quy định tại Điều 1 của Thông tư số 112/2009/TT-BTC ngày 2/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với vận tải quốc tế và dịch vụ của ngành hàng hải.
Theo quy định tại Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015 thì nội dung về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, chứng từ vận chuyển trong đó có vận đơn/vận đơn suốt đường biển không thay đổi so với quy định trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005. Như vậy, vận đơn/vận đơn suốt đường biển dùng trong vận tải quốc tế không theo phương thức hợp đồng vận chuyển theo chuyến là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
2. Đối với vận đơn vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Theo Điều 128 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hóa như sau:
“1. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là sự thỏa thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa đến địa điểm đến và trả hàng hóa cho người có quyền nhận; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán giá dịch vụ vận chuyển.
Người vận chuyển là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không.
2, Vận đơn hàng không, các thỏa thuận khác bằng văn bản giữa hai bên, Điều lệ vận chuyển, bằng giá dịch vụ vận chuyển là tài liệu của hợp đồng vận chuyển hàng hóa”.
Theo khoản 1 Điều 129 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định về vận đơn hàng không như sau:
“1. Vận đơn hàng không là chứng từ vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không và là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng, việc đã tiếp nhận hàng hóa và các điều kiện của hợp đồng.”
Theo khoản 1 Điều 141 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định về vận đơn hàng không thứ cấp như sau:
“1. Vận đơn hàng không thứ cấp là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giao nhận hàng hóa để vận chuyển bằng đường hàng không giữa doanh nghiệp giao nhận hàng hóa và người gửi hàng, điều kiện của hợp đồng và việc đã tiếp nhận hàng hóa để vận chuyển”
Trên cơ sở căn cứ pháp luật về hàng không dân dụng, vận đơn hàng không thứ cấp (House Airways Bill) là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giao nhận hàng hóa để vận chuyển bằng đường hàng không giữa doanh nghiệp giao nhận hàng hóa và người gửi hàng, điều kiện của hợp đồng và việc đã tiếp nhận hàng hóa để vận chuyển. Vận đơn hàng không thứ cấp (House Airways Bill) không phải là một phần không thể tách rời của hợp đồng giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển.
Vận đơn hàng không (Airways Bill/Master Airways Bill) là một phần không thể tách rời của hợp đồng giữa người vận chuyển (hãng hàng không) và người thuê vận chuyển. Như vậy, có cơ sở xác định vận đơn hàng không (Airways Bill/Master Airways Bill) dùng trong vận tải hàng không quốc tế (không theo phương thức hợp đồng vận chuyển theo chuyến) được thay thế cho điều kiện “có hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển”.
Trên đây là ý kiến của Bộ Giao thông vận tải để Tổng cục thuế tham khảo./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn 608/TCT-CS về thuế giá trị gia tăng đối với vận tải quốc tế và vé, vận đơn đối với vận tải quốc tế do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 7476/TCHQ-GSQL năm 2020 về khai báo thông tin số vận đơn do Tổng cục Hải quan ban hành
- 3Công văn 1301/GSQL-GQ1 năm 2022 về sử dụng vận đơn hàng không điện tử do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 1Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006
- 2Thông tư 112/2009/TT-BTC hướng dẫn điều kiện áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với vận tải quốc tế và dịch vụ của ngành hàng không, hàng hải do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 608/TCT-CS về thuế giá trị gia tăng đối với vận tải quốc tế và vé, vận đơn đối với vận tải quốc tế do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015
- 5Công văn 7476/TCHQ-GSQL năm 2020 về khai báo thông tin số vận đơn do Tổng cục Hải quan ban hành
- 6Công văn 1301/GSQL-GQ1 năm 2022 về sử dụng vận đơn hàng không điện tử do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
Công văn 5331/BGTVT-VT năm 2024 tham gia ý kiến về vận đơn do Bộ Giao thông vận tải ban hành
- Số hiệu: 5331/BGTVT-VT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Nơi ban hành: Bộ Giao thông vận tải
- Người ký: Nguyễn Công Bằng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/05/2024
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
