Tổng quan về Công văn 3950/TCT-QLN năm 2017
Công văn 3950/TCT-QLN do Tổng cục Thuế ban hành ngày 30 tháng 8 năm 2017 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho cơ quan thuế các cấp về việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng (gọi tắt là cưỡng chế hóa đơn). Văn bản này tháo gỡ nhiều vướng mắc thực tế, đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong công tác quản lý nợ thuế.
Các nội dung trọng tâm và quy định cốt lõi của Công văn 3950/TCT-QLN
- Đối tượng và điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế hóa đơn: Biện pháp cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn được áp dụng đối với người nộp thuế có hành vi chây ỳ, nợ tiền thuế, tiền chậm nộp quá hạn 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp thuế. Biện pháp này cũng được áp dụng khi cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó (như trích tiền từ tài khoản ngân hàng, phong tỏa tài khoản) nhưng không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được do người nộp thuế không có tài khoản hoặc tài khoản không có số dư.
- Quy trình thực hiện và ban hành quyết định cưỡng chế: Cơ quan thuế có thẩm quyền phải rà soát kỹ lưỡng thông tin về người nộp thuế trước khi ban hành quyết định cưỡng chế. Quyết định cưỡng chế hóa đơn phải được gửi cho người nộp thuế và được công khai trên trang thông tin điện tử của ngành Thuế ngay trong ngày ban hành hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo để các tổ chức, cá nhân khác được biết, tránh rủi ro khi giao dịch.
- Thời hạn có hiệu lực của quyết định cưỡng chế: Quyết định cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng có hiệu lực thi hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực. Trong thời gian này, nếu người nộp thuế nộp đủ số tiền thuế nợ thì cơ quan thuế sẽ ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế.
- Cơ chế giải quyết cho phép sử dụng hóa đơn lẻ từng lần phát sinh: Đây là nội dung đặc biệt quan trọng nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đang bị cưỡng chế hóa đơn nhưng có nhu cầu xuất hóa đơn để thanh toán các khoản chi phí duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh tối thiểu (như trả lương công nhân, tiền điện, nước). Theo hướng dẫn, nếu người nộp thuế có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn lẻ cho từng lô hàng, hạng mục công trình và cam kết nộp ngay tối thiểu 18% doanh thu trên hóa đơn được sử dụng vào ngân sách nhà nước để trừ vào nợ thuế, cơ quan thuế sẽ xem xét cho phép sử dụng hóa đơn lẻ từng lần phát sinh.
- Trách nhiệm phối hợp của cơ quan thuế các cấp: Tổng cục Thuế yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải chỉ đạo sát sao các Chi cục Thuế trong việc rà soát, phân loại nợ thuế chính xác. Đồng thời, các bộ phận chức năng như Quản lý nợ, Tuyên truyền hỗ trợ, và Kiểm tra thuế phải phối hợp chặt chẽ để giải quyết nhanh chóng các hồ sơ đề nghị sử dụng hóa đơn lẻ của doanh nghiệp, tránh gây ách tắc cho hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp của đơn vị.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn 3950/TCT-QLN năm 2017 đóng vai trò là hành lang nghiệp vụ rõ ràng, giúp cơ quan thuế vừa thực hiện nghiêm minh pháp luật về quản lý nợ thuế, vừa thể hiện sự đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng tài chính. Việc quy định tỷ lệ nộp 18% doanh thu để được sử dụng hóa đơn lẻ là giải pháp hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế, giúp doanh nghiệp có cơ hội tạo nguồn thu để tiếp tục trả nợ thuế dần dần.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3950/TCT-QLN | Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2017 |
Kính gửi: Công ty cổ phần xây dựng công trình ngầm-Vinavico
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 499/CV-TCKT/VINAVICO ngày 28/7/2017 đề nghị được tiếp tục sử dụng hóa đơn của Công ty cổ phần xây dựng công trình ngầm- Vinavico (sau đây viết tắt là Công ty Vinavico). Về việc này, sau khi báo cáo và được sự đồng ý của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về nội dung xuất hóa đơn lẻ:
Ngày 21/12/2016, Tổng cục Thuế đã có công văn số 5936/TCT-QLN hướng dẫn về việc sử dụng hóa đơn lẻ như sau:
“Trường hợp đang áp dụng biện pháp cưỡng chế thông báo hóa đơn không có giá trị sử dụng, nếu người nộp thuế có văn bản đề nghị sử dụng từng hóa đơn lẻ cho từng lô hàng, hạng mục công trình hoàn thành để có nguồn thanh toán tiền lương công nhân, thanh toán các khoản chi phí đảm bảo sản xuất kinh doanh được liên tục thì Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện tiếp tục cho người nộp thuế sử dụng từng hóa đơn lẻ với điều kiện người nộp thuế có văn bản cam kết thực hiện nộp ngay 18% doanh thu trên hóa đơn lẻ được sử dụng vào ngân sách nhà nước.
Đối với một số trường hợp đặc thù đã cam kết sử dụng hóa đơn như trên, giao đồng chí Cục trưởng Cục Thuế xem xét thực tế để cho phép: Người nộp thuế đề nghị một lần nhưng được sử dụng nhiều hóa đơn, cơ quan thuế phải đảm bảo thu được ngay toàn bộ số thuế phải nộp theo cam kết.
Nếu người nộp thuế vi phạm cam kết thì cơ quan thuế dừng ngay việc sử dụng hóa đơn lẻ của người nộp thuế”.
Trường hợp cơ quan thuế đang áp dụng biện pháp cưỡng chế thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng, Công ty Vinavico đề nghị được sử dụng hóa đơn lẻ để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục thì Công ty phải thực hiện nộp thuế theo đúng hướng dẫn tại công văn số 5936/TCT-QLN nêu trên. Để được tiếp tục sử dụng hóa đơn lẻ thì Công ty phải thực hiện nộp hết số tiền 18% doanh thu trên hóa đơn lẻ đã được sử dụng vào ngân sách nhà nước. Đề nghị Công ty liên hệ với Cục Thuế thành phố Hà Nội để được xem xét, hướng dẫn cụ thể về việc tiếp tục sử dụng hóa đơn lẻ.
2. Về nội dung miễn giảm tiền phạt chậm nộp:
2.1. Giai đoạn trước ngày 01/07/2013 (Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 có hiệu lực)
- Tại Khoản 1, Điều 111 Luật Quản lý thuế ngày 29/11/2006 quy định về việc miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế như sau: “Người bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế có quyền đề nghị miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế trong trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng khác”.
- Tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 25 Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế hướng dẫn về việc miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế và thẩm quyền miễn xử phạt như sau:
“1. Người nộp thuế bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế có quyền đề nghị miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế trong trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng khác. Mức miễn phạt tối đa không quá giá trị tài sản, hàng hóa bị thiệt hại.
3. Thủ trưởng cơ quan thuế có trách nhiệm xem xét miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế khi nhận được hồ sơ đề nghị miễn xử phạt của người nộp thuế đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền xử lý của mình hoặc của cấp dưới theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính”.
- Tại Khoản 1, Mục XIII phần E Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế quy định: “1. Người nộp thuế bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế có quyền đề nghị miễn xử phạt vi phạm pháp luật về thuế trong trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng khác”.
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty Vinavico gặp khó khăn về tài chính như trình bày tại công văn số 499/CV-TCKT/VINAVICO thì không thuộc đối tượng được miễn tiền phạt chậm nộp tiền thuế.
2.2. Sau thời điểm 01/07/2013 (Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 có hiệu lực)
- Khoản 32 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 quy định Điều 106 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 106. Xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế
1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức lũy tiến 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp không quá chín mươi ngày; 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp vượt quá thời hạn chín mươi ngày.”
- Luật sửa đổi bổ sung Luật Quản lý thuế số 71/2014/QH13 quy định:
+ Khoản 4 Điều 5 sửa đổi bổ sung Khoản 1 Điều 106 như sau:
“1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp”.
+ Khoản 1 Điều 6 quy định Điều khoản thi hành:
“1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.”
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế số 106/2016/QH13 quy định:
+ Tại Khoản 3 Điều 3 quy định như sau:
“1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp”.
+ Tại Khoản 1 Điều 4 quy định như sau:
“Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, trừ quy định tại khoản 2 Điều này”.
Căn cứ các quy định nêu trên, từ ngày 01/7/2013 trở đi, việc tính tiền chậm nộp tiền thuế của Công ty Vinavico thực hiện theo Khoản 32 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13, Khoản 4 Điều 5 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế số 71/2014/QH13 và Khoản 3 Điều 3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế số 106/2016/QH13.
3. Về nội dung cưỡng chế nợ thuế:
Tại khoản 3 Điều 9 Thông tư số 215/2013/TT-BTC quy định về thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế như sau:
“Quyết định cưỡng chế chấm dứt hiệu lực kể từ khi đối tượng bị cưỡng chế chấp hành xong quyết định xử lý vi phạm hành chính về thuế; đối tượng bị cưỡng chế đã nộp đủ tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ để chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế thuế là chứng từ nộp đủ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước của đối tượng bị cưỡng chế có xác nhận của kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức được phép ủy nhiệm thu thuế của đối tượng bị cưỡng chế”.
Căn cứ quy định nêu trên, quyết định cưỡng chế chỉ chấm dứt hiệu lực khi Công ty Vinavico đã nộp đủ tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty cổ phần xây dựng công trình ngầm- Vinavico biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 4676/TCT-QLN năm 2015 vướng mắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 4967/TCT-QLN năm 2015 về cưỡng chế nợ thuế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 5368/TCT-QLN năm 2015 vướng mắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật quản lý thuế 2006
- 2Nghị định 98/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- 3Thông tư 61/2007/TT-BTC hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật về thuế do Bộ Tài Chính ban hành
- 4Luật quản lý thuế sửa đổi 2012
- 5Thông tư 215/2013/TT-BTC hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 6Luật sửa đổi các Luật về thuế 2014
- 7Công văn 4676/TCT-QLN năm 2015 vướng mắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Tổng cục Thuế ban hành
- 8Công văn 4967/TCT-QLN năm 2015 về cưỡng chế nợ thuế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Tổng cục Thuế ban hành
- 9Công văn 5368/TCT-QLN năm 2015 vướng mắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Tổng cục Thuế ban hành
- 10Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế sửa đổi 2016
- 11Công văn 5936/TCT-QLN năm 2016 về sử dụng hóa đơn lẻ do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 3950/TCT-QLN năm 2017 về cưỡng chế hóa đơn do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3950/TCT-QLN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 31/08/2017
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đỗ Thị Hồng Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 31/08/2017
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra