Tóm tắt Công văn 3324/TCT-CS năm 2019 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm nông nghiệp
Công văn 3324/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương thống nhất phương pháp kê khai, tính thuế.
Trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, chính sách không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT được áp dụng cụ thể như sau:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi bán các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
- Khi lập hóa đơn GTGT cho trường hợp này, người bán ghi rõ giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất và tiền thuế GTGT không ghi và phải gạch chéo.
- Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa nông sản giữa các tổ chức kinh tế, giảm bớt gánh nặng thủ tục và chi phí thuế trong chuỗi cung ứng.
Trường hợp áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%
Công văn làm rõ ranh giới giữa đối tượng không phải kê khai thuế và đối tượng chịu thuế suất 5% ở khâu kinh doanh thương mại:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến hoặc mới qua sơ chế thông thường cho các đối tượng khác không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã (như hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân tiêu dùng trực tiếp) thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất là 5%.
- Việc áp dụng thuế suất 5% đối với nhóm đối tượng này nhằm đảm bảo quản lý thuế chặt chẽ và thu đúng, thu đủ thuế GTGT ở khâu tiêu dùng cuối cùng.
Trường hợp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp
Đối với các cơ sở kinh doanh không áp dụng phương pháp khấu trừ, phương pháp tính thuế được xác định như sau:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng khi bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa chế biến hoặc mới qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 1% trên doanh thu.
- Hóa đơn sử dụng trong trường hợp này là hóa đơn bán hàng thông thường theo quy định.
Ý nghĩa pháp lý và lưu ý quan trọng đối với doanh nghiệp
Để đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật và tránh các rủi ro pháp lý về thuế, doanh nghiệp cần lưu ý các điểm sau:
- Doanh nghiệp bán hàng có nghĩa vụ chủ động kiểm tra, xác minh thông tin đăng ký thuế và tư cách pháp nhân của đối tác mua hàng (là doanh nghiệp, hợp tác xã hay hộ, cá nhân kinh doanh) để áp dụng đúng hóa đơn và thuế suất tương ứng.
- Các chứng từ đi kèm như hợp đồng mua bán, biên bản giao nhận, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (đối với giao dịch từ 20 triệu đồng trở lên) phải được lưu trữ đầy đủ để làm cơ sở giải trình khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra.
- Việc áp dụng sai đối tượng không phải kê khai thuế GTGT có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bị truy thu thuế, tính tiền chậm nộp và xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3324/TCT-CS | Hà Nội, ngày 21 tháng 08 năm 2019 |
Kính gửi: Cục Thuế thành phố Hà Nội.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 9473/CT-KTT2 ngày 14/3/2019 của Cục Thuế thành phố Hà Nội về việc hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư của Công ty TNHH Một thành viên Dệt 8-3. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Tại khoản 2, 3, 4 Điều 31 Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội quy định:
“2. Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
3. Dự án đầu tư mở mở rộng là dự án đầu tư phát triển dự án đang hoạt động đầu tư kinh doanh bằng cách mở rộng quy mô, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường.
4. Dự án đầu tư mới là dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án hoạt động độc lập với dự án đang thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.”
2. Tại khoản 3 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 13 của Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều theo Luật số 31/2013/QH13 quy định:
“3. Khoản 1 và Khoản 2 Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
Trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng.””
3. Tại tiết b Điểm 2 Khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư như sau:
“b) cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ trường hợp đầu tư xây dựng nhà để bán) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào bù trừ với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, sau khi bù trừ nếu số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng đối với dự án đầu tư”.
4. Tại tiết b, Điểm 3, khoản 3, Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 12 tháng 8 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư như sau:
“b) Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ trường hợp hướng dẫn tại Điểm c Khoản 3 Điều này và trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê mà không hình thành tài sản cố định) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì cơ sở kinh doanh lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư đồng thời phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện, số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.
Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư... ”.
Căn cứ các quy định, hướng dẫn nêu trên, Cục Thuế thành phố Hà Nội đề nghị Công ty TNHH Một thành viên Dệt 8-3 xin ý kiến của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trên địa bàn nơi thực hiện dự án “Đầu tư mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất của Nhà máy Sợi Yên Mỹ” xác nhận việc thực hiện dự án đầu tư nêu trên của Công ty là dự án đầu tư mở rộng hay dự án đầu tư mới theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trên cơ sở ý kiến của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Cục Thuế thành phố Hà Nội hướng dẫn Công ty TNHH Một thành viên Dệt 8-3 thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế thành phố Hà Nội biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 5485/TCHQ-TXNK năm 2019 về thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2Công văn 5486/TCHQ-TXNK năm 2019 về thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu của nhà thầu xây dựng nhà xưởng cho doanh nghiệp chế xuất do Tổng cục Hải quan ban hành
- 3Công văn 3326/TCT-CS năm 2019 về thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 3385/TCT-KK năm 2019 về khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cho thuê do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 3617/TCT-CS năm 2019 về thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật Thuế giá trị gia tăng 2008
- 2Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013
- 3Luật Đầu tư 2014
- 4Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế sửa đổi 2016
- 5Nghị định 100/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế sửa đổi
- 6Thông tư 130/2016/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 100/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế sửa đổi và sửa đổi các Thông tư về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 7Công văn 5485/TCHQ-TXNK năm 2019 về thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Hải quan ban hành
- 8Công văn 5486/TCHQ-TXNK năm 2019 về thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu của nhà thầu xây dựng nhà xưởng cho doanh nghiệp chế xuất do Tổng cục Hải quan ban hành
- 9Công văn 3326/TCT-CS năm 2019 về thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 10Công văn 3385/TCT-KK năm 2019 về khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cho thuê do Tổng cục Thuế ban hành
- 11Công văn 3617/TCT-CS năm 2019 về thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 3324/TCT-CS năm 2019 về thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3324/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 21/08/2019
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Lưu Đức Huy
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/08/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
