TÓM TẮT TOÀN DIỆN CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN TRẺ EM
THÔNG TIN CHUNG VỀ VĂN BẢN
- Tên văn bản: Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
- Số hiệu: Không rõ.
- Loại văn bản: Công ước quốc tế.
- Cơ quan ban hành: Liên hợp quốc.
- Ngày ban hành, Ngày áp dụng, Tình trạng hiệu lực: Không rõ (theo dữ liệu được cung cấp).
PHẦN I: CÁC QUYỀN CỐT LÕI CỦA TRẺ EM (ĐIỀU 1 - ĐIỀU 41)
Phần này quy định chi tiết về định nghĩa trẻ em, các nguyên tắc nền tảng và hệ thống quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của trẻ em:
- Định nghĩa trẻ em (Điều 1): Trẻ em được xác định là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử (Điều 2): Các Quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm các quyền trong Công ước cho mọi trẻ em thuộc quyền tài phán của mình mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, thành phần xuất thân hay địa vị khác của trẻ em hoặc cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp. Đồng thời, phải bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử hoặc trừng phạt do địa vị, hoạt động, ý kiến phát biểu hay tín ngưỡng của gia đình.
- Lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 3): Lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu trong mọi hoạt động liên quan đến trẻ em của các cơ quan phúc lợi xã hội nhà nước hay tư nhân, tòa án, nhà chức trách hành chính hay cơ quan lập pháp. Quốc gia cam kết bảo đảm sự bảo vệ, chăm sóc cần thiết và các cơ sở chịu trách nhiệm chăm sóc phải tuân thủ tiêu chuẩn do cơ quan có thẩm quyền quy định về an toàn, sức khỏe, số lượng và tính phù hợp của nhân viên.
- Biện pháp thực hiện (Điều 4): Các quốc gia phải thi hành mọi biện pháp lập pháp, hành pháp và các biện pháp khác để thực hiện các quyền được thừa nhận. Đối với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thực hiện ở mức tối đa khả năng sẵn có và trong khuôn khổ hợp tác quốc tế khi cần thiết.
- Vai trò của cha mẹ và gia đình (Điều 5): Tôn trọng trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, gia đình mở rộng hoặc cộng đồng theo phong tục địa phương trong việc chỉ bảo, hướng dẫn trẻ em thực hiện các quyền phù hợp với mức độ phát triển năng lực của trẻ.
- Quyền sống, sống còn và phát triển (Điều 6): Thừa nhận mọi trẻ em đều có quyền vốn có là được sống. Quốc gia phải bảo đảm đến mức tối đa có thể sự sống còn và phát triển của trẻ em.
- Khai sinh, họ tên và quốc tịch (Điều 7 & Điều 8): Trẻ em phải được đăng ký ngay sau khi sinh, có quyền có họ tên, quốc tịch, quyền biết và được cha mẹ chăm sóc. Quốc gia cam kết tôn trọng quyền giữ gìn bản sắc (quốc tịch, họ tên, quan hệ gia đình) không bị can thiệp bất hợp pháp và hỗ trợ khôi phục nhanh chóng nếu bị tước đoạt.
- Quan hệ với cha mẹ và đoàn tụ gia đình (Điều 9 & Điều 10): Trẻ em không bị tách khỏi cha mẹ trái ý muốn, trừ khi cơ quan thẩm quyền quyết định vì lợi ích tốt nhất của trẻ (như bị lạm dụng, bỏ mặc, cha mẹ ly thân). Trẻ em sống cách ly có quyền duy trì quan hệ và tiếp xúc trực tiếp đều đặn với cả cha và mẹ. Đơn yêu cầu xuất nhập cảnh để đoàn tụ gia đình phải được giải quyết tích cực, nhân đạo và nhanh chóng.
- Chống mang trẻ em ra nước ngoài bất hợp pháp (Điều 11): Tiến hành các biện pháp và thúc đẩy ký kết hiệp định song phương hoặc đa phương để chống việc đưa trẻ em ra nước ngoài bất hợp pháp và không đưa trở về.
- Quyền tự do bày tỏ ý kiến và tiếp cận thông tin (Điều 12 & Điều 13): Bảo đảm cho trẻ em quyền tự do phát biểu quan điểm về các vấn đề tác động đến mình, ý kiến phải được coi trọng tương ứng với độ tuổi và sự trưởng thành. Trẻ em có quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin, tư tưởng dưới mọi hình thức (chỉ chịu hạn chế theo luật để tôn trọng danh dự người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức hoặc sức khỏe cộng đồng).
- Tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 14): Tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo của trẻ em dưới sự hướng dẫn của cha mẹ hoặc người giám hộ phù hợp với sự phát triển của trẻ.
- Tự do kết giao và hội họp hòa bình (Điều 15): Thừa nhận quyền tự do kết giao và hội họp hòa bình của trẻ em, không bị hạn chế ngoài các quy định của pháp luật vì an ninh quốc gia, trật tự xã hội, đạo đức hoặc sức khỏe cộng đồng.
- Bảo vệ quyền riêng tư (Điều 16): Không trẻ em nào phải chịu sự can thiệp tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời tư, gia đình, nhà cửa, thư tín hoặc bị công kích vào danh dự, thanh danh.
- Vai trò của truyền thông đại chúng (Điều 17): Bảo đảm trẻ em tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn có lợi cho sự phát triển xã hội, tinh thần, đạo đức và thể chất. Khuyến khích phổ biến sách trẻ em, lưu ý nhu cầu ngôn ngữ của trẻ em thiểu số và phát triển hướng dẫn bảo vệ trẻ em khỏi thông tin có hại.
- Trách nhiệm nuôi dưỡng của cha mẹ (Điều 18): Cha mẹ có trách nhiệm chung và đầu tiên trong việc nuôi dưỡng, phát triển trẻ em vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Quốc gia phải hỗ trợ cha mẹ thực hiện trách nhiệm này và phát triển các dịch vụ chăm sóc trẻ em.
- Bảo vệ khỏi bạo lực và lạm dụng (Điều 19): Thực hiện các biện pháp lập pháp, hành pháp, xã hội, giáo dục để bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực thể chất hoặc tinh thần, bị đánh đập, lạm dụng, bỏ mặc, ngược đãi hoặc bóc lột (kể cả xâm phạm tình dục) khi nằm trong sự chăm sóc của cha mẹ hoặc người giám hộ.
- Chăm sóc thay thế và nhận con nuôi (Điều 20 & Điều 21): Trẻ em bị tước mất môi trường gia đình được hưởng sự bảo vệ và chăm sóc thay thế của Nhà nước (gửi nuôi, Kafala, nhận con nuôi, gửi cơ sở thích hợp), có lưu ý đến nền tảng văn hóa, tôn giáo của trẻ. Việc nhận con nuôi phải đặt lợi ích tốt nhất của trẻ lên hàng đầu, được cơ quan thẩm quyền cho phép, bảo đảm bảo vệ tương đương khi nhận con nuôi nước ngoài và không dẫn đến trục lợi tài chính.
- Trẻ em tị nạn (Điều 22): Bảo đảm trẻ em xin tị nạn hoặc là người tị nạn nhận được sự bảo vệ và giúp đỡ nhân đạo, hợp tác tìm kiếm cha mẹ để đoàn tụ gia đình.
- Trẻ em khuyết tật (Điều 23): Trẻ em khuyết tật thể chất hoặc tinh thần có quyền hưởng cuộc sống đầy đủ, tươm tất, tôn trọng phẩm giá, tự lực và tham gia cộng đồng. Được chăm sóc đặc biệt, hỗ trợ miễn phí nếu có thể để tiếp cận giáo dục, y tế, phục hồi chức năng và chuẩn bị việc làm.
- Sức khỏe và dịch vụ y tế (Điều 24 & Điều 25): Quyền hưởng tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất và tiếp cận cơ sở chữa bệnh. Quốc gia phải giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, chống bệnh tật và suy dinh dưỡng (cung cấp nước sạch, thức ăn dinh dưỡng), chăm sóc sức khỏe cho người mẹ trước và sau sinh, giáo dục vệ sinh, xóa bỏ các tập tục có hại. Trẻ em được gửi đi chăm sóc, điều trị có quyền được xem xét lại định kỳ chế độ điều trị.
- An sinh xã hội và mức sống (Điều 26 & Điều 27): Quyền hưởng an sinh xã hội và mức sống thích đáng để phát triển toàn diện. Cha mẹ có trách nhiệm đầu tiên; quốc gia hỗ trợ vật chất (dinh dưỡng, quần áo, nhà ở) khi cần thiết và thúc đẩy phục hồi việc nuôi dưỡng trẻ em từ người có trách nhiệm tài chính (kể cả ở nước ngoài).
- Giáo dục và mục tiêu giáo dục (Điều 28 & Điều 29): Thực hiện giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí; khuyến khích trung học sẵn có và dễ tiếp cận; tạo điều kiện tiếp cận đại học theo năng lực. Kỷ luật nhà trường phải phù hợp nhân phẩm trẻ em. Giáo dục phải hướng tới phát triển tối đa nhân cách, tài năng, tôn trọng quyền con người, cha mẹ, bản sắc văn hóa, giá trị quốc gia và môi trường tự nhiên.
- Trẻ em thiểu số và bản địa (Điều 30): Không bị khước từ quyền hưởng văn hóa, thực hành tôn giáo và sử dụng ngôn ngữ riêng trong cộng đồng.
- Nghỉ ngơi, vui chơi và hoạt động văn hóa (Điều 31): Quyền nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi, giải trí và tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật phù hợp lứa tuổi.
- Bảo vệ khỏi bóc lột lao động (Điều 32): Bảo vệ trẻ em khỏi bóc lột kinh tế và công việc nguy hiểm, ảnh hưởng học hành hoặc có hại cho sức khỏe, sự phát triển. Quốc gia phải quy định tuổi tối thiểu, giờ giấc, điều kiện lao động và hình phạt vi phạm.
- Bảo vệ khỏi chất ma túy và bóc lột tình dục (Điều 33 & Điều 34): Ngăn ngừa trẻ em bị lôi kéo vào sử dụng, sản xuất, buôn bán ma túy. Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột và lạm dụng tình dục (ép buộc hoạt động tình dục, mại dâm, tài liệu khiêu dâm).
- Chống bắt cóc, buôn bán và các hình thức bóc lột khác (Điều 35 & Điều 36): Ngăn ngừa bắt cóc, buôn bán trẻ em dưới mọi hình thức và bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột khác làm phương hại đến phúc lợi.
- Cấm tra tấn, hình phạt tàn ác và tước tự do tùy tiện (Điều 37): Cấm tra tấn, đối xử tàn ác, hạ thấp nhân phẩm. Không áp dụng tử hình hoặc tù chung thân không có khả năng phóng thích đối với người dưới 18 tuổi. Việc bắt, giam giữ chỉ là biện pháp cuối cùng trong thời hạn ngắn nhất; trẻ em bị giam giữ phải được đối xử nhân đạo, cách ly người lớn (trừ khi vì lợi ích tốt nhất) và được tiếp cận trợ giúp pháp lý khẩn trương.
- Bảo vệ trong xung đột vũ trang (Điều 38): Tôn trọng luật nhân đạo quốc tế. Bảo đảm người chưa đến 15 tuổi không trực tiếp tham gia chiến sự và không bị tuyển mộ vào lực lượng vũ trang. Thực hiện mọi biện pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi xung đột.
- Phục hồi và tái hòa nhập xã hội (Điều 39): Thúc đẩy phục hồi thể chất, tâm lý và tái hòa nhập xã hội cho trẻ em là nạn nhân của bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột, tra tấn hoặc xung đột vũ trang trong môi trường tôn trọng lòng tự trọng và phẩm giá.
- Tư pháp người chưa thành niên (Điều 40): Trẻ em bị tình nghi, cáo buộc hoặc xác nhận vi phạm luật hình sự phải được đối xử tôn trọng nhân cách, phẩm giá và thúc đẩy tái hòa nhập. Đảm bảo các quyền: coi là vô tội đến khi chứng minh ngược lại, thông báo nhanh cáo buộc, trợ giúp pháp lý, xét xử công bằng bởi cơ quan độc lập, không ép khai/nhận tội, kháng cáo, phiên dịch miễn phí và tôn trọng đời tư. Xác định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự và ưu tiên các biện pháp xử lý không qua thủ tục tư pháp.
- Áp dụng tiêu chuẩn cao hơn (Điều 41): Không quy định nào trong Công ước làm ảnh hưởng đến các quy định tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc thực hiện quyền trẻ em trong luật quốc gia hoặc luật quốc tế có hiệu lực với quốc gia đó.
PHẦN II: CƠ CHẾ GIÁM SÁT VÀ THỰC THI (ĐIỀU 42 - ĐIỀU 45)
Phần này thiết lập các cơ chế để bảo đảm việc thực hiện hiệu quả các cam kết trong Công ước:
- Phổ biến Công ước (Điều 42): Các Quốc gia thành viên cam kết phổ biến rộng rãi các nguyên tắc và quy định của Công ước tới cả người lớn và trẻ em bằng các phương tiện thích hợp và tích cực.
- Ủy ban về Quyền Trẻ em (Điều 43): Thành lập Ủy ban gồm 18 chuyên gia có đạo đức tốt và năng lực được thừa nhận (ban đầu là 10 thành viên, sau đó sửa đổi thành 18 thành viên theo Nghị quyết số 50/155 ngày 21/12/1995, có hiệu lực từ ngày 18/11/2002). Các thành viên do các Quốc gia thành viên bầu bằng bỏ phiếu kín, hoạt động với tư cách cá nhân với nhiệm kỳ 4 năm (có thể tái cử). Ủy ban họp hàng năm để xem xét sự tiến bộ của các quốc gia.
- Nghĩa vụ báo cáo của quốc gia (Điều 44): Các quốc gia cam kết trình báo cáo về các biện pháp thực hiện và tiến bộ đạt được thông qua Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc: lần đầu trong vòng 2 năm kể từ khi Công ước có hiệu lực đối với quốc gia đó, và sau đó cứ 5 năm một lần. Báo cáo phải nêu rõ khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện và phải được công bố rộng rãi cho công chúng nước mình. Ủy ban trình báo cáo hoạt động lên Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc 2 năm một lần.
- Hợp tác quốc tế và hỗ trợ kỹ thuật (Điều 45): Các tổ chức chuyên môn, UNICEF và các cơ quan khác của Liên Hợp Quốc có quyền tham gia xem xét thực hiện Công ước. Ủy ban có thể mời tư vấn chuyên môn, chuyển các báo cáo có yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật đến các cơ quan thẩm quyền và khuyến nghị Đại Hội đồng tiến hành các nghiên cứu cụ thể về quyền trẻ em.
PHẦN III: CÁC ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH VÀ THỦ TỤC PHÁP LÝ (ĐIỀU 46 - ĐIỀU 54)
Phần này quy định các thủ tục ký kết, phê chuẩn, gia nhập, sửa đổi và các khía cạnh pháp lý khác của Công ước:
- Ký, phê chuẩn và gia nhập (Điều 46, 47 & 48): Công ước để ngỏ cho mọi quốc gia ký, phê chuẩn hoặc gia nhập. Các văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập được nộp lưu chiểu cho Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc.
- Hiệu lực của Công ước (Điều 49): Công ước có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 20 được nộp lưu chiểu. Đối với các quốc gia phê chuẩn/gia nhập sau đó, Công ước có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày nộp văn kiện của chính quốc gia đó.
- Thủ tục sửa đổi (Điều 50): Quốc gia thành viên có quyền đề xuất sửa đổi. Nếu có ít nhất 1/3 số quốc gia tán thành, Tổng Thư ký sẽ triệu tập hội nghị để xem xét. Sửa đổi được thông qua bởi đa số quốc gia có mặt và biểu quyết tại hội nghị, sau đó trình Đại Hội đồng thông qua. Sửa đổi có hiệu lực khi được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và được 2/3 số Quốc gia thành viên chấp nhận, chỉ ràng buộc những quốc gia đã chấp nhận nó.
- Bảo lưu (Điều 51): Cho phép các quốc gia đưa ra bảo lưu khi phê chuẩn hoặc gia nhập, nhưng không chấp nhận các bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của Công ước. Quốc gia có thể rút bảo lưu bất kỳ lúc nào bằng cách thông báo cho Tổng Thư ký.
- Rút khỏi Công ước (Điều 52): Quốc gia thành viên có thể tuyên bố rút khỏi Công ước bằng thông báo bằng văn bản gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc. Tuyên bố rút khỏi Công ước có hiệu lực sau 1 năm kể từ ngày nhận được thông báo.
- Người lưu chiểu và Ngôn ngữ (Điều 53 & Điều 54): Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc được chỉ định làm người lưu chiểu Công ước. Bản gốc Công ước được làm bằng các tiếng: Ả-rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, các văn bản đều có giá trị như nhau.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
LỜI MỞ ĐẦU
Các Quốc gia thành viên Công ước này,
Xét rằng, theo các nguyên tắc đã Công bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, sự thừa nhận phẩm giá vốn có cũng như các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, Công lý và hòa bình trên thế giới;
Ghi nhớ rằng, các dân tộc thành viên của Liên Hợp Quốc đã từng khẳng định lại trong Hiến chương niềm tin của mình vào các quyền cơ bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, đồng thời quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và cải thiện điều kiện sinh sống trên cơ sở một nền tự do rộng lớn hơn;
Thừa nhận rằng, trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con người, Liên Hợp Quốc đã thỏa thuận và công bố rằng, mọi người đều có quyền được hưởng mọi quyền và tự do đã được nêu ra trong các văn kiện đó, mà không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác;
Nhắc lại rằng, trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người, Liên Hợp Quốc đã công bố rằng, trẻ em có quyền được hỗ trợ và chăm sóc đặc biệt;
Tin tưởng rằng, gia đình, với ý nghĩa là tế bào xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em, cần được sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết để đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng;
Thừa nhận rằng, để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông;
Xét rằng, trẻ em cần được chuẩn bị đầy đủ để có thể sống một cuộc sống riêng trong xã hội và cần được nuôi dưỡng theo tinh thần các lý tưởng được nêu ra trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, nhất là tinh thần hòa bình, phẩm giá, khoan dung, tự do, bình đẳng và đoàn kết;
Ghi nhớ rằng, sự cần thiết phải dành cho trẻ em sự chăm sóc đặc biệt là một yêu cầu đã được khẳng định trong Tuyên bố Geneva về quyền trẻ em năm 1924, trong Tuyên bố về quyền trẻ em do Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1959 và đã được thừa nhận trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (đặc biệt là các điều 23 và 24), trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (đặc biệt là điều 10), trong những quy chế và văn kiện có liên quan khác của các cơ quan chuyên môn, các tổ chức quốc tế hoạt động vì phúc lợi của trẻ em;
Ghi nhớ rằng, như đã chỉ ra trong Tuyên bố về quyền trẻ em, ”trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”;
Nhắc lại các điều khoản của Tuyên bố về các nguyên tắc xã hội và pháp lý có liên quan đến bảo hộ và phúc lợi cho trẻ em, đặc biệt đối với chế độ bố trí nuôi dưỡng và nhận con nuôi trong phạm vi quốc gia và quốc tế; Những quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) và Tuyên bố về bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong trường hợp khẩn cấp hoặc xung đột vũ trang;
Thừa nhận rằng, ở mọi quốc gia trên thế giới, vẫn còn trẻ em sống trong các điều kiện đặc biệt khó khăn và những trẻ em đó cần nhận được sự quan tâm đặc biệt;
Cân nhắc thích đáng đến tầm quan trọng của các truyền thống và giá trị văn hóa của mỗi dân tộc nhằm thúc đẩy sự bảo vệ và phát triển hài hòa của trẻ em;
Thừa nhận tầm quan trọng của hợp tác quốc tế đối với việc cải thiện điều kiện sống của trẻ em ở mọi quốc gia, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển;
Đã thỏa thuận như sau:
2. Các Quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ trước mọi hình thức phân biệt đối xử hoặc trừng phạt vì các lý do địa vị, hoạt động, những ý kiến phát biểu hoặc tín ngưỡng của cha mẹ, người giám hộ pháp lý hoặc những thành viên khác trong gia đình của trẻ em.
2. Các Quốc gia thành viên cam kết bảo đảm dành cho trẻ em sự bảo vệ và chăm sóc cần thiết cho hạnh phúc của các em, có tính đến những quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, người giám hộ hợp pháp hay những cá nhân khác có trách nhiệm pháp lý đối với trẻ em và nhằm mục đích đó, sẽ tiến hành mọi biện pháp lập pháp và hành pháp thích hợp.
3. Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng những tổ chức, cơ quan và cơ sở chịu trách nhiệm chăm sóc hoặc bảo vệ trẻ em phải tuân thủ những tiêu chuẩn do các nhà chức trách có thẩm quyền quy định, đặc biệt trong các lĩnh vực an toàn, sức khỏe, về số lượng và tính phù hợp của đội ngũ nhân viên các cơ quan đó, cũng như về sự giám sát trình độ chuyên môn.
1. Các Quốc gia thành viên thừa nhận rằng mọi trẻ em đều có quyền vốn có là được sống.
2. Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm đến mức tối đa có thể được sự sống còn và phát triển của trẻ em.
2. Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm việc thực hiện những quyền đó phù hợp với pháp luật quốc gia, với những nghĩa vụ của họ theo các văn kiện quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt trong trường hợp mà nếu không làm như thế thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch.
2. Khi trẻ em bị tước đoạt một cách bất hợp pháp một số hoặc tất cả những yếu tố thuộc về bản sắc của các em, thì các Quốc gia thành viên phải cung cấp sự trợ giúp và bảo vệ thích hợp, nhằm mục đích nhanh chóng khôi phục lại bản sắc cho các em đó.
2. Trong mọi quá trình tố tụng theo như khoản 1, mọi bên liên quan phải được có cơ hội tham gia và bày tỏ quan điểm của mình.
3. Các Quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền của đứa trẻ phải sống cách ly khỏi cha, mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ, được duy trì những quan hệ riêng tư và được tiếp xúc trực tiếp với cả cha và mẹ một cách đều đặn, trừ khi việc này trái với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ.
3. Khi việc tách khỏi cha, mẹ như vậy là kết quả của bất kỳ hành động nào của một Quốc gia thành viên như giam giữ, bỏ tù, trục xuất khỏi đất nước, đày đi xa hay chết (gồm cả những cái chết xảy ra do bất kỳ nguyên nhân nào khi người đó đang bị nhà nước giam giữ), của cha hay mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ của đứa trẻ, hay của bản thân đứa trẻ, thì Quốc gia thành viên đó phải cung cấp theo yêu cầu cho cha mẹ, cho đứa trẻ, hoặc nếu thích hợp, cho một thành viên khác của gia đình, những thông tin thiết yếu về địa chỉ của một hay nhiều thành viên vắng mặt của gia đình, trừ khi việc cung cấp thông tin như thế sẽ phương hại đến phúc lợi của đứa trẻ. Các Quốc gia thành viên còn phải bảo đảm rằng việc đề ra yêu cầu như vậy sẽ không tự nó gây nên những hậu quả có hại cho người (hoặc những người) liên quan.
2. Trẻ em có cha mẹ mà mỗi người cư trú ở các quốc gia khác nhau phải có quyền được duy trì đều đặn, trừ khi gặp hoàn cảnh đặc biệt, các quan hệ cá nhân và tiếp xúc trực tiếp với cả cha và mẹ. Nhằm mục đích đó và phù hợp với nghĩa vụ của các Quốc gia thành viên theo Điều 9, khoản 2, các Quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền của đứa trẻ và của cha mẹ em được rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả chính quốc gia của họ và quyền trở về quốc gia của họ. Quyền được rời khỏi bất kỳ quốc gia nào sẽ chỉ lệ thuộc vào những điều hạn chế được ghi trong pháp luật và cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, y tế, đạo đức hoặc các quyền và sự tự do của những người khác, và phù hợp với các quyền khác được thừa nhận trong Công ước này.
2. Để đạt được mục đích này, các Quốc gia thành viên sẽ thúc đẩy việc ký kết những hiệp định song phương hoặc đa phương có liên quan, hay tham gia các hiệp định hiện có.
2. Vì mục đích đó, trẻ em phải được đặc biệt trao cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có liên quan đến trẻ, trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy tắc thủ tục trong pháp luật quốc gia.
2. Việc thực hiện quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhưng những hạn chế này phải được quy định bằng pháp luật và là cần thiết:
a. Để tôn trọng các quyền và danh dự của người khác; hoặc
b. Để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức và sức khỏe của cộng đồng.
2. Các Quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền, nghĩa vụ của các bậc cha mẹ, và trong trường hợp thích hợp, của những người giám hộ pháp lý, trong việc hướng dẫn trẻ em thực hiện quyền này một cách phù hợp với mức độ phát triển của các em.
3. Quyền tự do thực hành tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể chịu những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết để bảo vệ an ninh công cộng, trật tự xã hội, y tế hay đạo đức của cộng đồng hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác.
1. Các Quốc gia thành viên thừa nhận các quyền của trẻ em được tự do kết giao và hội họp hòa bình.
2. Các Quốc gia thành viên không được đặt ra bất kỳ một hạn chế nào với việc thực hiện các quyền này, ngoài những điều mà đề ra phù hợp với pháp luật và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích của an ninh quốc gia, an ninh công cộng, trật tự xã hội, y tế, đạo đức của cộng đồng, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác.
2. Trẻ em có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp hay công kích như vậy.
Nhằm mục đích này, các Quốc gia thành viên sẽ:
1. Khuyến khích các cơ quan truyền thông đại chúng phổ biến những thông tin và tư liệu có lợi về xã hội và văn hóa cho trẻ em và phù hợp với tinh thần của Điều 29;
2. Khuyến khích sự hợp tác quốc tế trong việc sản xuất, trao đổi và phổ biến những thông tin và tư liệu như thế từ nhiều nguồn văn hóa khác nhau ở quốc gia và quốc tế;
3. Khuyến khích việc sản xuất và phổ biến sách dành cho trẻ em;
4. Khuyến khích các cơ quan thông tin đại chúng đặc biệt lưu ý đến những nhu cầu về ngôn ngữ của trẻ em thuộc các nhóm thiểu số hay bản địa;
5. Khuyến khích phát triển những hướng dẫn thích hợp cho việc bảo vệ trẻ em chống lại những thông tin và tư liệu có hại cho lợi ích của các em, có lưu ý đến những quy định được nêu trong các Điều 13 và 18.
2. Vì mục đích bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện các quyền được quy định trong Công ước này, các Quốc gia thành viên phải dành sự giúp đỡ thích đáng cho các bậc cha mẹ và những người giám hộ hợp pháp trong việc thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ em, và phải bảo đảm phát triển những thể chế, phương tiện và dịch vụ cho việc chăm sóc trẻ em.
3. Các Quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm cho con cái của những cha mẹ đang làm việc có quyền được hưởng các dịch vụ và phương tiện chăm sóc trẻ em mà họ có đủ tư cách được hưởng.
2. Những biện pháp bảo vệ như vậy, trong chừng mực thích hợp, cần bao gồm các thủ tục hữu hiệu để thành lập các chương trình xã hội nhằm dành sự hỗ trợ cần thiết cho trẻ em và những người chăm sóc trẻ em, cũng như các hình thức phòng ngừa khác và cho việc xác định, báo cáo, chuyển cấp, điều tra, xử lý và tiến hành những bước tiếp theo trong các trường hợp ngược đãi trẻ em như đã mô tả trên đây, và, nếu thích hợp, cho sự can thiệp về mặt tư pháp.
2. Các Quốc gia thành viên phải cho các trẻ em như thế được hưởng sự chăm sóc thay thế tương ứng, phù hợp với pháp luật quốc gia.
3. Sự chăm sóc như thế có thể bao gồm nhiều hình thức, chẳng hạn như gửi nuôi, hình thức Kafala theo luật Hồi giáo, việc nhận làm con nuôi, hoặc nếu cần thiết, gửi vào những cơ sở chăm sóc trẻ em thích hợp. Khi cân nhắc các giải pháp, phải quan tâm thích đáng đến mong muốn nuôi dạy trẻ em lâu dài cũng như đến nền tảng dân tộc, tôn giáo, văn hóa và ngôn ngữ của đứa trẻ.
1. Bảo đảm rằng, việc nhận trẻ em làm con nuôi chỉ được tiến hành với sự cho phép của những cơ quan có thẩm quyền mà, phù hợp với pháp luật và các thủ tục, và trên cơ sở các thông tin thích hợp và đáng tin cậy, quyết định rằng việc nhận trẻ em làm con nuôi là có thể chấp nhận được khi xét đến thân phận của trẻ em về cha, mẹ, họ hàng, người giám hộ hợp pháp và rằng, nếu được yêu cầu, những người có liên quan đó đồng ý một cách có hiểu biết việc nhận con nuôi trên cơ sở tham khảo ý kiến khi cần thiết;
2. Thừa nhận rằng, việc cho trẻ em ra nước ngoài làm con nuôi có thể coi như một biện pháp thay thế để chăm sóc trẻ em, nếu như đứa trẻ đó không thể gửi gắm được cho một gia đình chăm nom hay được một gia đình nhận nuôi, hoặc không thể nhận được sự chăm sóc bằng bất cứ cách thức thích hợp nào khác tại nước nguyên quán của em;
3. Bảo đảm rằng trẻ em được người nước ngoài nhận làm con nuôi cũng được hưởng những sự bảo vệ và điều kiện tương đương theo các quy định hiện hành của việc làm con nuôi trong nước;
4. Thi hành tất cả các biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng, trong trường hợp nhận con nuôi ở nước ngoài, việc nhận con nuôi không dẫn đến sự trục lợi không chính đáng về tài chính của những người liên quan trong việc nhận con nuôi;
5. Khi thích hợp, thúc đẩy những mục tiêu của điều này bằng cách ký kết những dàn xếp hoặc thỏa thuận song phương hay đa phương và cố gắng trong khuôn khổ đó, bảo đảm rằng việc đưa trẻ em sang nước khác làm con nuôi do những cơ quan hay bộ phận có thẩm quyền tiến hành.
2. Nhằm mục đích đó, các Quốc gia thành viên, nếu xét thấy thích hợp, cần hợp tác trong mọi cố gắng của Liên Hợp Quốc hoặc các tổ chức liên chính phủ hay phi chính phủ có thẩm quyền đang hợp tác với Liên Hợp Quốc, để bảo vệ, giúp đỡ những trẻ em như thế, và để tìm kiếm cha mẹ hoặc những thành viên khác trong gia đình của bất kỳ trẻ em tị nạn nào, nhằm có được những thông tin cần thiết để đưa trẻ em đó đoàn tụ gia đình. Trong trường hợp không thể tìm ra cha mẹ hay các thành viên khác của gia đình em thì đứa trẻ đó phải được hưởng sự bảo vệ giống như bất kỳ trẻ em nào mà vĩnh viễn hay tạm thời bị mất môi trường gia đình vì bất kỳ lý do gì, như đã được nêu trong Công ước này.
2. Các Quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em khuyết tật được chăm sóc đặc biệt và tùy theo các nguồn lực sẵn có, phải khuyến khích và bảo đảm dành cho trẻ em khuyết tật và cho những người có trách nhiệm chăm sóc sự giúp đỡ mà họ yêu cầu mà thích hợp với điều kiện của trẻ em đó và với hoàn cảnh của cha mẹ hay những người khác chăm sóc trẻ em đó.
3. Trên cơ sở thừa nhận các nhu cầu đặc biệt của trẻ em khuyết tật, sự giúp đỡ dành cho trẻ em khuyết tật theo khoản 2 của điều này phải được cung cấp miễn phí, bất kỳ khi nào có thể, có tính đến khả năng tài chính của cha mẹ hay những người khác chăm sóc trẻ em khuyết tật và sự giúp đỡ đó sẽ được sắp xếp để bảo đảm rằng trẻ em khuyết tật được tiếp cận một cách hiệu quả và được nhận sự giáo dục, đào tạo, các dịch vụ y tế và dịch vụ phục hồi chức năng, chuẩn bị công ăn việc làm và các cơ hội vui chơi, giải trí theo cách thức có lợi cho việc trẻ em có thể hòa nhập tối đa vào xã hội và phát triển các năng lực cá nhân, kể cả sự phát triển văn hóa và tinh thần của những trẻ em đó.
4. Trên tinh thần hợp tác quốc tế, các Quốc gia thành viên phải thúc đẩy việc trao đổi thông tin thích hợp trên lĩnh vực phòng bệnh và về lĩnh vực chữa trị y tế, tâm lý và chức năng cho trẻ em khuyết tật, kể cả việc phổ biến và tiếp cận các thông tin liên quan đến phương pháp giáo dục, phục hồi chức năng và đào tạo nghề với mục tiêu giúp cho các Quốc gia thành viên nâng cao khả năng và trình độ của họ để mở rộng kinh nghiệm của họ trong những lĩnh vực này. Về mặt này, cần đặc biệt chú ý đến nhu cầu của các nước đang phát triển.
2. Các Quốc gia thành viên phải theo đuổi việc thực hiện đầy đủ quyền này, và đặc biệt, phải thực hiện những biện pháp thích hợp để:
a. Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em;
b. Bảo đảm dành sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe cần thiết cho mọi trẻ em, trong đó chú trọng phát triển công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu;
c. Chống bệnh tật và nạn suy dinh dưỡng, kể cả trong khuôn khổ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, chẳng hạn qua việc áp dụng các công nghệ sẵn có và qua việc cung cấp thức ăn đầy đủ dinh dưỡng và nước uống sạch, có tính đến những nguy cơ ô nhiễm môi trường;
d. Bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe thích hợp cho người mẹ trước và sau khi sinh;
e. Bảo đảm rằng mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là những bậc cha mẹ và trẻ em, được thông tin, tiếp thu giáo dục và được hỗ trợ trong việc sử dụng các kiến thức cơ bản về sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em, về những ưu điểm của việc nuôi con bằng sữa mẹ, về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và phòng ngừa các tai biến;
f. Phát triển công tác phòng bệnh, hướng dẫn cha mẹ, cũng như các hoạt động giáo dục và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.
3. Các Quốc gia thành viên phải thực hiện mọi biện pháp thích hợp và hiệu quả nhằm xóa bỏ những tập tục có hại cho sức khỏe của trẻ em.
4. Các Quốc gia thành viên cam kết thúc đẩy và khuyến khích sự hợp tác quốc tế nhằm dần dần đạt đến sự thực hiện đầy đủ các quyền được thừa nhận trong điều này. Về vấn đề này, phải đặc biệt tính đến nhu cầu của các quốc gia đang phát triển.
2. Khi thích hợp, các quyền lợi này cần được cung cấp trên cơ sở có tính đến các nguồn lực, hoàn cảnh của trẻ em và của những người chịu trách nhiệm nuôi dưỡng trẻ em, cũng như yếu tố khác có liên quan đến việc xin được hưởng những quyền lợi đó do trẻ em hay người đại diện cho trẻ em thực hiện.
2. Cha mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ hay những người khác chịu trách nhiệm về trẻ em có trách nhiệm đầu tiên trong việc bảo đảm các điều kiện sống cần thiết cho sự phát triển của trẻ em theo năng lực và khả năng tài chính của mình.
3. Các Quốc gia thành viên, phù hợp với điều kiện của nước mình và trong phạm vi các phương tiện sẵn có của mình, phải thi hành các biện pháp thích hợp để giúp đỡ các bậc cha mẹ và những người khác chịu trách nhiệm về trẻ em thực hiện quyền này, và trong trường hợp cần thiết, phải thực hiện những chương trình hỗ trợ và giúp đỡ vật chất, đặc biệt là về dinh dưỡng, quần áo và nhà ở.
4. Các Quốc gia thành viên phải tiến hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm phục hồi việc nuôi dưỡng trẻ em từ cha mẹ hay những người khác có trách nhiệm về tài chính đối với trẻ em tại Quốc gia thành viên đó cũng như ở nước ngoài. Cụ thể, nếu người có trách nhiệm về tài chính đối với trẻ em sống ở một quốc gia khác thì các Quốc gia thành viên phải thúc đẩy việc gia nhập các thỏa thuận quốc tế hay ký kết những thỏa thuận như vậy, cũng như đặt ra những cơ chế thích hợp khác.
a. Thực hiện chính sách giáo dục tiểu học bắt buộc, sẵn có và miễn phí cho tất cả mọi người;
b. Khuyến khích phát triển nhiều hình thức giáo dục trung học khác nhau, kể cả giáo dục phổ thông và dạy nghề, làm cho những hình thức giáo dục này sẵn có và mọi trẻ em đều có thể tiếp cận, và thi hành các biện pháp thích hợp như đưa ra loại hình giáo dục miễn phí và cung cấp hỗ trợ tài chính trong trường hợp cần thiết;
c. Dùng mọi phương tiện thích hợp để giúp cho tất cả mọi người, trên cơ sở khả năng của mình, đều có thể tiếp cận với giáo dục đại học;
d. Làm cho những hướng dẫn và thông tin về giáo dục và dạy nghề sẵn có và mọi trẻ em đều có thể tiếp cận được;
e. Có biện pháp khuyến khích việc đi học đều đặn ở trường và giảm tỷ lệ bỏ học.
2. Các Quốc gia thành viên phải thi hành các biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng kỷ luật nhà trường được thực hiện phù hợp với nhân phẩm của trẻ em và theo đúng Công ước này.
3. Các Quốc gia thành viên phải thúc đẩy và khuyến khích sự hợp tác quốc tế trong những vấn đề liên quan đến giáo dục, đặc biệt nhằm đóng góp vào việc xóa bỏ nạn dốt nát và mù chữ trên toàn thế giới và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các kiến thức khoa học, kỹ thuật và các phương pháp giảng dạy hiện đại. Về mặt này, nhu cầu của các quốc gia đang phát triển phải được đặc biệt chú ý.
1. Các Quốc gia thành viên nhất trí rằng, việc giáo dục trẻ em phải được hướng tới:
a. Phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về trí tuệ và thể chất của trẻ em;
b. Phát triển sự tôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản, tôn trọng những nguyên tắc được ghi trong Hiến chương Liên Hợp Quốc;
c. Phát triển sự tôn trọng đối với cha mẹ của trẻ em, tôn trọng bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và các giá trị của bản thân trẻ em, tôn trọng những giá trị quốc gia của đất nước mà trẻ em đang sống và của đất nước là nguyên quán của trẻ em, tôn trọng những nền văn minh khác với nền văn minh của nơi mà trẻ em sinh ra;
d. Chuẩn bị cho trẻ em sống một cuộc sống có trách nhiệm trong xã hội tự do, theo tinh thần hiểu biết, hòa bình, khoan dung, bình đẳng giữa nam và nữ và tình hữu nghị giữa các dân tộc, các nhóm chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo và những người gốc bản địa;
e. Phát triển sự tôn trọng đối với môi trường tự nhiên.
2. Không một quy định nào trong điều này hay trong Điều 28 sẽ được giải thích theo hướng làm tổn hại đến quyền tự do của các cá nhân và tập thể được thành lập và điều hành những tổ chức giáo dục, với điều kiện phải luôn tuân thủ nguyên tắc được nêu trong khoản 1 của điều này và phù hợp các yêu cầu là giáo dục do các tổ chức đó cung cấp phải tuân theo các tiêu chuẩn tối thiểu mà Nhà nước đặt ra.
2. Các Quốc gia thành viên phải tôn trọng và thúc đẩy quyền của trẻ em được tham gia đầy đủ vào sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật, và sẽ khuyến khích việc dành cho trẻ em những cơ hội bình đẳng, thích hợp trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, giải trí và thư giãn.
2. Các Quốc gia thành viên phải thi hành những biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục để bảo đảm thực hiện điều này. Để đạt mục tiêu này, và tính đến những điều khoản thích hợp của những văn kiện quốc tế khác, các Quốc gia thành viên phải:
a. Quy định một hay nhiều mức tuổi tối thiểu được phép thu nhận vào làm công;
b. Có các quy định thích hợp về giờ giấc và điều kiện lao động của người làm công;
c. Có các hình thức phạt tiền hay các hình thức phạt thích hợp khác để bảo đảm thực hiện điều này.
1. Việc xúi giục hay ép buộc trẻ em tham gia bất kỳ hoạt động tình dục trái pháp luật nào;
2. Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong hoạt động mại dâm hay các hoạt động tình dục trái pháp luật khác;
3. Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn hay trong các tài liệu khiêu dâm.
Các Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng:
1. Không trẻ em nào bị tra tấn hay bị đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm. Những người dưới 18 tuổi nếu gây ra những hành động phạm pháp sẽ không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng được phóng thích;
2. Không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện. Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành phù hợp với pháp luật và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và áp dụng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất;
3. Mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng phẩm giá vốn có của con người, theo cách thức có tính đến các nhu cầu của những người ở lứa tuổi các em. Đặc biệt, mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được cách ly với người lớn, trừ trường hợp vì lợi ích tốt nhất của trẻ mà không nên làm như vậy, và các em phải có quyền duy trì sự tiếp xúc với gia đình qua thư từ và các cuộc viếng thăm, trừ những trường hợp ngoại lệ;
4. Mọi trẻ em bị tước tự do có quyền được nhanh chóng tiếp cận sự trợ giúp pháp lý và những trợ giúp thích hợp khác, cũng như quyền được chất vấn tính chất hợp pháp của việc tước tự do đó trước một tòa án hay cơ quan có thẩm quyền, độc lập, vô tư khác và có quyền đòi hỏi một quyết định nhanh chóng liên quan đến bất kỳ hành động nào như vậy.
2. Các Quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp khả thi có thể thực hiện được nhằm bảo đảm rằng những người chưa đến tuổi 15 không phải trực tiếp tham gia chiến sự.
3. Các Quốc gia thành viên phải tránh tuyển mộ bất kỳ người nào chưa đến 15 tuổi vào lực lượng vũ trang của mình; khi tuyển mộ trong số những người đã đến 15 tuổi nhưng chưa đến 18 tuổi, các Quốc gia thành viên phải cố gắng ưu tiên tuyển mộ những người nhiều tuổi nhất trong số đó.
4. Phù hợp với nghĩa vụ của mình theo luật nhân đạo quốc tế là bảo vệ dân thường trong các cuộc xung đột vũ trang, các Quốc gia thành viên phải thực hiện mọi biện pháp có thể thực hiện được nhằm bảo đảm sự bảo vệ và chăm sóc những trẻ em bị ảnh hưởng bởi xung đột vũ trang.
2. Nhằm mục đích đó và xét đến những điều khoản thích hợp trong các văn kiện quốc tế, cụ thể, các Quốc gia thành viên sẽ bảo đảm rằng:
a. Không một trẻ em nào bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm luật hình sự vì những hành động hay không hành động mà luật quốc gia và quốc tế không cấm vào thời điểm xảy ra;
b. Mọi trẻ em bị tình nghi hay bị cáo buộc là đã vi phạm luật hình sự được có ít nhất những điều bảo đảm sau đây:
i. Được coi là vô tội cho tới khi bị chứng minh rằng đã phạm tội theo pháp luật;
ii. Được thông báo nhanh chóng và trực tiếp về lời buộc tội và nếu thích hợp, được thông báo qua cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp của mình, được trợ giúp về mặt pháp lý hoặc những trợ giúp thích hợp khác để chuẩn bị và trình bày lời bào chữa của mình;
iii. Được một nhà chức trách, hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền, độc lập và vô tư xem xét vụ việc một cách khẩn trương tại một phiên tòa công bằng theo pháp luật, có sự trợ giúp về mặt pháp lý hay trợ giúp thích hợp khác, trừ trường hợp không nên làm như vậy vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, đặc biệt xét đến độ tuổi và tình trạng của trẻ em, của cha mẹ hay những người giám hộ hợp pháp;
iv. Không bị ép buộc phải đưa ra lời khai hoặc nhận tội; được thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn những người làm chứng chống lại mình; được tham gia và thẩm vấn những người làm chứng cho mình theo những điều kiện bình đẳng;
v. Nếu bị coi là đã vi phạm luật hình sự, thì có quyền yêu cầu một nhà chức trách hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền cao hơn, độc lập và vô tư xem xét lại quyết định và những biện pháp thi hành theo quyết định đó theo pháp luật;
vi. Được trợ giúp phiên dịch miễn phí nếu trẻ em không hiểu hay không nói được ngôn ngữ sử dụng trong quá trình tố tụng;
vii. Mọi điều riêng tư của trẻ em phải được hoàn toàn tôn trọng trong mọi giai đoạn tố tụng.
3. Các Quốc gia thành viên phải tìm cách thúc đẩy việc thiết lập những đạo luật, thủ tục, các cơ quan và thể chế áp dụng riêng cho những trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm luật hình sự, và cụ thể là:
c. Xác định độ tuổi tối thiểu mà dưới độ tuổi đó trẻ em sẽ được coi là không có khả năng vi phạm luật hình sự;
d. Bất kỳ khi nào thấy thích hợp và cần thiết cần đề ra các biện pháp xử lý những trẻ em vi phạm pháp luật hình sự mà không phải sử dụng đến thủ tục tư pháp, miễn là các quyền con người và những bảo vệ pháp lý được tôn trọng đầy đủ.
4. Đưa ra nhiều biện pháp khác nhau như ra lệnh chăm sóc, hướng dẫn và giám sát; tư vấn; thử thách; chăm nuôi; các chương trình giáo dục và dạy nghề và những biện pháp thay thế khác cho việc quản lý tại cơ sở nhằm bảo đảm cho trẻ em được đối xử phù hợp với phúc lợi của trẻ và tương xứng với hoàn cảnh cũng như hành vi phạm tội của trẻ.
1. Pháp luật của một Quốc gia thành viên; hay,
2. Pháp luật quốc tế có hiệu lực với quốc gia đó.
2. Ủy ban này bao gồm 18 chuyên gia có đạo đức tốt và có năng lực được thừa nhận trong lĩnh vực mà Công ước đề cập[1]. Các thành viên của Ủy ban sẽ do những Quốc gia thành viên bầu ra trong số công dân của mình và họ sẽ làm việc với tư cách cá nhân, có tính đến sự phân bố công bằng về địa lý cũng như các hệ thống pháp luật chính.
3. Các thành viên của Ủy ban được bầu bằng cách bỏ phiếu kín từ danh sách những người do các Quốc gia thành viên đề cử. Mỗi Quốc gia thành viên có thể đề cử một công dân của nước mình.
4. Cuộc bầu cử đầu tiên sẽ được tiến hành không muộn hơn 6 tháng kể từ ngày Công ước có hiệu lực và sau đó cứ 2 năm tiến hành một lần[HTC1]. Ít nhất 4 tháng trước mỗi cuộc bầu cử, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc sẽ gửi thư tới các Quốc gia thành viên mời họ đề cử trong vòng 2 tháng. Sau đó, Tổng Thư ký sẽ chuẩn bị một danh sách theo thứ tự trong bảng chữ cái những người đã được đề cử, trong đó nêu rõ Quốc gia thành viên đề cử họ, và sẽ gửi danh sách đó cho các Quốc gia thành viên của Công ước này.
5. Các cuộc bầu cử được tổ chức trong phiên họp của các Quốc gia thành viên do Tổng Thư ký triệu tập tại trụ sở Liên Hợp Quốc. Các phiên họp này phải có ít nhất hai phần ba số các Quốc gia thành viên tham dự, những người được bầu vào Ủy ban là những người nhận được số phiếu cao nhất và chiếm đa số tuyệt đối trong tổng số phiếu của đại diện các Quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu.
6. Các thành viên của Ủy ban được bầu với nhiệm kỳ 4 năm. Họ có quyền tái cử nếu như được đề cử lại. Nhiệm kỳ của 5 trong số những thành viên được bầu trong lần bầu cử đầu tiên sẽ kết thúc sau 2 năm. Ngay sau cuộc bầu cử đầu tiên, tên của 5 thành viên này sẽ được Chủ tịch phiên họp chọn bằng rút thăm.
7. Nếu một thành viên của Ủy ban chết hoặc từ chức hay tuyên bố rằng vì bất kỳ một lý do nào khác không thể đảm nhiệm công việc trong Ủy ban, Quốc gia thành viên đã đề cử thành viên đó sẽ có quyền bổ nhiệm một chuyên gia khác là công dân nước mình làm việc trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ, với sự chấp thuận của Ủy ban.
8. Ủy ban sẽ đề ra các quy tắc thủ tục riêng của mình.
9. Ủy ban sẽ bầu ra các quan chức của mình theo nhiệm kỳ 2 năm.
10. Thông thường, các phiên họp của Ủy ban được tổ chức tại trụ sở của Liên Hợp Quốc hay bất kỳ nơi thuận tiện nào khác do Ủy ban quyết định. Thông thường Ủy ban họp hàng năm. Thời gian các phiên họp của Ủy ban sẽ được quyết định và xem xét lại, nếu cần thiết, bằng một phiên họp của các Quốc gia thành viên Công ước này, với sự thông qua của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc.
11. Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc sẽ cung cấp nhân sự và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện có hiệu quả các chức năng của Ủy ban theo Công ước này.
12. Với sự thông qua của Đại Hội đồng, các thành viên của Ủy ban được thành lập theo Công ước này được nhận thù lao của Liên Hợp Quốc theo những quy định và điều kiện mà Đại Hội đồng quy định.
a. Trong vòng 2 năm kể từ khi Công ước có hiệu lực đối với Quốc gia thành viên liên quan;
b. Sau đó cứ 5 năm một lần.
2. Các báo cáo được đệ trình theo điều này phải nêu ra những nhân tố và các khó khăn, nếu có, mà ảnh hưởng đến việc thực hiện những nghĩa vụ nêu ra trong Công ước này. Các báo cáo cũng phải cung cấp đầy đủ thông tin để Ủy ban có thể hiểu biết toàn diện về tình hình thực hiện Công ước ở nước có liên quan.
3. Một Quốc gia thành viên đã trình báo cáo tổng thể đầu tiên với Ủy ban không cần nhắc lại trong các báo cáo tiếp theo được gửi theo khoản 1 (b) những thông tin cơ bản đã cung cấp trước đó.
4. Ủy ban có thể yêu cầu các Quốc gia thành viên cung cấp thêm bất kỳ thông tin nào khác liên quan đến việc thực hiện Công ước.
5. Ủy ban sẽ trình báo cáo về hoạt động của mình cho Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc hai năm một lần, thông qua Hội đồng Kinh tế và Xã hội.
6. Các Quốc gia thành viên phải Công bố rộng rãi những báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước cho công chúng nước mình.
1. Các tổ chức chuyên môn, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc và những cơ quan khác của Liên Hợp Quốc có quyền có đại diện trong khi xem xét việc thực hiện những quy định của Công ước này thuộc phạm vi trách nhiệm của các cơ quan đó. Ủy ban có thể mời các tổ chức chuyên môn, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc và những cơ quan có thẩm quyền khác mà Ủy ban coi là thích hợp để cung cấp các ý kiến tư vấn chuyên môn về việc thực hiện Công ước trong các lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm của những cơ quan này. Ủy ban có thể đề nghị các tổ chức chuyên môn, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc và những cơ quan khác của Liên Hợp Quốc cung cấp các báo cáo về việc thực hiện Công ước trong những lĩnh vực thuộc phạm vi hoạt động của họ;
2. Nếu xét thấy thích hợp, Ủy ban sẽ chuyển tới các tổ chức chuyên môn, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc và những cơ quan có thẩm quyền khác bất kỳ báo cáo của các Quốc gia thành viên mà đưa ra đề nghị hoặc nêu nhu cầu tư vấn hay trợ giúp kỹ thuật, cùng với những nhận xét và gợi ý của Ủy ban, nếu có, về những đề nghị hay nhu cầu đó;
3. Ủy ban có thể khuyến nghị Đại Hội đồng yêu cầu Tổng Thư ký thay mặt mình tiến hành các nghiên cứu về những vấn đề cụ thể liên quan tới quyền trẻ em;
4. Ủy ban có thể nêu những gợi ý và khuyến nghị chung dựa trên các thông tin nhận được theo Điều 44 và 45 của Công ước này. Những gợi ý và khuyến nghị chung này sẽ được chuyển tới bất kỳ Quốc gia thành viên nào có liên quan và sẽ được báo cáo với Đại Hội đồng, cùng với các bình luận, nếu có, của những Quốc gia thành viên.
2. Đối với mỗi quốc gia phê chuẩn hay gia nhập Công ước sau khi văn kiện phê chuẩn hay gia nhập thứ 20 được nộp lưu chiểu cho Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 kể từ ngày văn kiện phê chuẩn hay gia nhập của quốc gia đó được nộp lưu chiểu.
2. Mọi sửa đổi bổ sung được thông qua theo khoản 1 của điều này sẽ có hiệu lực khi được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và được đa số 2/3 các Quốc gia thành viên chấp nhận.
3. Khi một sửa đổi có hiệu lực, sửa đổi đó sẽ có hiệu lực ràng buộc với những Quốc gia thành viên đã chấp nhận nó, các Quốc gia thành viên khác vẫn bị ràng buộc bởi những quy định của Công ước này và mọi sửa đổi trước đó mà họ đã chấp nhận.
2. Mọi bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của Công ước này sẽ không được chấp nhận.
3. Có thể rút những điều bảo lưu vào bất cứ lúc nào bằng gửi một thông báo tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, sau đó Tổng Thư ký phải thông báo cho mọi Quốc gia thành viên. Thông báo rút lui bảo lưu này sẽ có hiệu lực từ ngày Tổng Thư ký nhận được.
Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc được chỉ định làm người lưu chiểu Công ước này.
Để làm bằng, các đại diện có đủ thẩm quyền ký tên dưới đây được ủy quyền hợp lệ bởi Chính phủ nước mình, đã ký vào văn bản Công ước này.
[1] Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, trong Nghị quyết số 50/155 ngày 21/12/1995, thông qua việc sửa đổi khoản 2, Điều 43 của Công ước Quyền trẻ em, bằng cách thay từ “mười” bằng từ “mười tám”. Việc sửa đổi này có hiệu lực vào ngày 18/11/ 002 khi được chấp nhận bởi đa số 2/3 của các quốc gia thành viên (128 trong 191).
[HTC1] Mâu thuẫn với nhiệm kỳ của các thành viên Ủy ban ở mục 6
- 1Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
- 2Công ước 87 năm 1948 quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức
- 3Hiến Chương Liên hợp quốc 1945
- 4Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, 1966
- 5Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ, 1952
- 6Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị
- 7Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 37120:2018 về Phát triển bền vững cho cộng đồng - Các chỉ số về dịch vụ và chất lượng sống đô thị
- 8Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-1:2020 (ISO 34101-1:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 1: Yêu cầu đối với hệ thống quản lý sản xuất cacao bền vừng
- 9Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-2:2020 (ISO 34101-2:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 2: Yêu cầu đối với kết quả thực hiện (về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường)
Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 20/11/1989
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 02/09/1990
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
