Thông tin chung về văn bản:
- Tên văn bản: Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights - UDHR).
- Năm ban hành: 1948.
- Các thông tin khác (Số hiệu, Loại văn bản, Cơ quan ban hành, Ngày ban hành, Ngày áp dụng, Tình trạng hiệu lực): Không có thông tin xác định cụ thể trong nguồn dữ liệu được cung cấp.
Nguyên tắc nền tảng và các quyền tự do cá nhân đầu tiên (Điều 1 - Điều 4):
Bản Tuyên ngôn đặt ra những nguyên tắc cốt lõi mang tính định hướng cho toàn bộ hệ thống quyền con người trên thế giới:
- Tự do và bình đẳng tự nhiên (Điều 1): Khẳng định mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm cách cũng như quyền lợi. Con người được phú cho lý trí và lương tri, do đó phải đối xử với nhau trong tinh thần bác ái, hữu nghị.
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử (Điều 2): Mọi cá nhân đều được hưởng đầy đủ các quyền tự do ghi trong Tuyên ngôn mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, dòng dõi hay địa vị. Đồng thời, không được phân biệt dựa trên quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hoặc lãnh thổ mà người đó trực thuộc (dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền).
- Quyền cơ bản về sự sống và an toàn (Điều 3): Khẳng định quyền tối cao của mỗi cá nhân bao gồm quyền được sống, quyền tự do và quyền an toàn thân thể.
- Cấm chế độ nô lệ (Điều 4): Tuyệt đối nghiêm cấm việc bắt người làm nô lệ hoặc nô dịch dưới mọi hình thức, bao gồm cả việc mua bán nô lệ.
Nhóm quyền bảo vệ tư pháp và an toàn cá nhân (Điều 5 - Điều 12):
Các điều khoản này thiết lập ranh giới pháp lý nghiêm ngặt nhằm bảo vệ cá nhân trước sự can thiệp độc đoán từ phía cơ quan công quyền và các chủ thể khác:
- Cấm tra tấn và đối xử tàn ác (Điều 5): Nghiêm cấm hành vi tra tấn, áp dụng hình phạt hoặc đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm con người.
- Quyền được công nhận tư cách pháp lý (Điều 6): Mọi người đều có quyền được thừa nhận là một con người trước pháp luật ở bất kỳ nơi nào.
- Bình đẳng trước pháp luật (Điều 7): Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Đồng thời, được bảo vệ chống lại mọi hành vi kỳ thị hoặc xúi giục kỳ thị trái với Tuyên ngôn này.
- Quyền khiếu nại và khởi kiện (Điều 8): Quyền yêu cầu các tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp hiệu quả để chống lại các hành vi vi phạm quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.
- Cấm bắt giữ độc đoán (Điều 9): Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hoặc lưu đày một cách độc đoán, vô căn cứ.
- Quyền được xét xử công bằng (Điều 10): Quyền được xét xử công khai, công bằng bởi một tòa án độc lập và vô tư để phán quyết về quyền lợi, nghĩa vụ hoặc các cáo buộc hình sự đối với bản thân.
- Nguyên tắc suy đoán vô tội và phi hồi tố (Điều 11): Bị cáo được coi là vô tội cho đến khi tội lỗi được chứng minh hợp pháp trong một phiên tòa công khai có đầy đủ bảo đảm quyền biện hộ. Không ai bị kết án vì những hành vi không cấu thành tội phạm tại thời điểm thực hiện theo luật quốc gia hoặc quốc tế, và không bị áp dụng hình phạt nặng hơn mức phạt tại thời điểm phạm tội.
- Quyền bảo vệ đời tư (Điều 12): Bảo vệ cá nhân trước sự xâm phạm độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự và thanh danh.
Nhóm quyền tự do di chuyển, cư trú và nhân thân (Điều 13 - Điều 17):
Nhóm quyền này bảo đảm quyền tự quyết của cá nhân đối với không gian sống, quốc tịch và các mối quan hệ gia đình, tài sản:
- Tự do đi lại và cư trú (Điều 13): Quyền tự do đi lại, cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; quyền rời khỏi bất kỳ nước nào (kể cả nước mình) và quyền hồi hương.
- Quyền tị nạn (Điều 14): Quyền tìm kiếm và lánh nạn tại các quốc gia khác khi bị đàn áp. Quyền này không áp dụng đối với các vụ truy tố thực sự phát sinh từ tội phạm phi chính trị hoặc hành vi đi ngược lại mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hợp Quốc.
- Quyền có quốc tịch (Điều 15): Mọi người đều có quyền có quốc tịch; nghiêm cấm việc tước quốc tịch hoặc tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.
- Quyền kết hôn và bảo vệ gia đình (Điều 16): Nam nữ đến tuổi thành hôn có quyền kết hôn và lập gia đình không phân biệt chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú và khi ly hôn. Hôn nhân phải dựa trên sự tự nguyện hoàn toàn. Gia đình được thừa nhận là đơn vị tự nhiên, căn bản của xã hội và phải được xã hội, nhà nước bảo vệ.
- Quyền sở hữu tài sản (Điều 17): Quyền sở hữu tài sản cá nhân hoặc sở hữu chung; nghiêm cấm việc tước đoạt tài sản một cách độc đoán.
Nhóm quyền tự do tinh thần, ngôn luận và tham gia chính trị (Điều 18 - Điều 21):
Các quyền này bảo đảm cho cá nhân khả năng phát triển tư duy độc lập và tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia:
- Tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo (Điều 18): Bao gồm quyền thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo qua giảng dạy, thực hành, thờ phụng bằng hình thức cá nhân hoặc tập thể tại nơi công cộng hoặc tư gia.
- Tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm (Điều 19): Quyền tự do giữ vững quan điểm không bị can thiệp; quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin, ý kiến qua mọi phương tiện truyền thông không giới hạn biên giới quốc gia.
- Tự do hội họp và lập hội (Điều 20): Quyền tự do hội họp và lập hội hòa bình; không ai bị ép buộc phải gia nhập bất kỳ hội đoàn nào.
- Quyền tham gia quản lý nhà nước và bầu cử (Điều 21): Quyền tham gia chính quyền trực tiếp hoặc gián tiếp qua đại biểu tự do lựa chọn; quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước. Ý nguyện của nhân dân là nền tảng quyền lực của chính quyền, được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ, trung thực, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín.
Nhóm quyền về an sinh xã hội, lao động, giáo dục và văn hóa (Điều 22 - Điều 27):
Đây là nhóm quyền bảo đảm các điều kiện vật chất và tinh thần tối thiểu để con người sống xứng đáng với nhân phẩm:
- Quyền được an sinh xã hội (Điều 22): Quyền được hưởng an sinh xã hội và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển cá tính thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế.
- Quyền lao động và bảo vệ người lao động (Điều 23): Quyền làm việc, tự do chọn việc làm, điều kiện làm việc công bằng, bảo vệ chống thất nghiệp. Quyền nhận lương ngang nhau cho công việc ngang nhau; lương phải bảo đảm đời sống xứng đáng cho bản thân và gia đình. Quyền thành lập và gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ lợi ích.
- Quyền nghỉ ngơi và giải trí (Điều 24): Quyền được giới hạn giờ làm việc hợp lý và hưởng những ngày nghỉ định kỳ có trả lương.
- Quyền được bảo đảm mức sống khả quan (Điều 25): Quyền có mức sống đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi (thức ăn, mặc, nhà ở, y tế, dịch vụ xã hội); quyền được an sinh xã hội khi thất nghiệp, đau ốm, góa bụa, già yếu do hoàn cảnh ngoài ý muốn. Sản phụ và trẻ em (kể cả con ngoài giá thú) được đặc biệt chăm sóc và bảo trợ xã hội.
- Quyền giáo dục (Điều 26): Giáo dục phải miễn phí ít nhất ở cấp tiểu học và căn bản; tiểu học là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật, chuyên nghiệp và cao đẳng phải được phổ cập bình đẳng dựa trên năng lực. Giáo dục hướng tới phát triển nhân cách, tôn trọng nhân quyền, tăng cường sự thông cảm và hòa bình. Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn loại hình giáo dục cho con cái.
- Quyền tham gia đời sống văn hóa và bảo hộ sở hữu trí tuệ (Điều 27): Quyền tự do tham gia đời sống văn hóa cộng đồng, thưởng thức nghệ thuật và hưởng lợi từ tiến bộ khoa học. Quyền được bảo vệ quyền lợi tinh thần và vật chất từ các tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật do mình sáng tạo.
Trật tự xã hội, nghĩa vụ của cá nhân và nguyên tắc áp dụng (Điều 28 - Điều 30):
Phần cuối của Tuyên ngôn xác định mối quan hệ biện chứng giữa quyền lợi, nghĩa vụ và giới hạn pháp lý:
- Quyền có một trật tự xã hội phù hợp (Điều 28): Quyền được sống trong một trật tự xã hội và quốc tế mà các quyền tự do trong Tuyên ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.
- Nghĩa vụ đối với cộng đồng và giới hạn quyền (Điều 29): Mỗi cá nhân có nghĩa vụ đối với cộng đồng để phát triển nhân cách. Việc thực hiện quyền chỉ chịu những giới hạn do luật định nhằm tôn trọng quyền của người khác, bảo đảm đạo đức, trật tự công cộng và an lạc chung trong xã hội dân chủ. Các quyền này không được thực hiện trái với mục tiêu của Liên Hợp Quốc.
- Nguyên tắc không lạm dụng quyền (Điều 30): Không một điều khoản nào được giải thích nhằm cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào có hành vi phá hoại các quyền và tự do được liệt kê trong Tuyên ngôn.
Phụ đính: Các điều khoản nhân quyền trong Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945):
Hiến chương Liên Hợp Quốc đặt nền móng pháp lý quốc tế cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người:
- Mục tiêu của Liên Hợp Quốc (Điều 1): Duy trì hòa bình, an ninh quốc tế; phát triển quan hệ hữu nghị dựa trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc; đạt được sự hợp tác quốc tế giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo và khuyến khích tôn trọng nhân quyền cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.
- Thúc đẩy hợp tác quốc tế (Điều 55): Liên Hợp Quốc đề xướng nâng cao mức sống, giải quyết việc làm, thúc đẩy tiến bộ kinh tế - xã hội; tìm giải pháp cho các vấn đề y tế, văn hóa, giáo dục; và thúc đẩy sự tôn trọng, thực thi toàn cầu đối với nhân quyền và các quyền tự do căn bản.
- Cam kết của các quốc gia thành viên (Điều 56): Các quốc gia thành viên cam kết hợp tác với Liên Hợp Quốc bằng hành động riêng rẽ hoặc phối hợp để đạt được các mục tiêu phát triển và nhân quyền nêu tại Điều 55.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)
LỜI MỞ ĐẦU
Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,
Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,
Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,
Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,
Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
Vì vậy,
ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC
Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.
Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.
Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.
Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.
Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ
Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.
Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.
Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.
Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.
Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.
Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.
Điều 11:
1) Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.
2) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.
Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.
Điều 13:
1) Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.
2) Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.
Điều 14:
1) Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.
2) Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
Điều 15:
1) Ai cũng có quyền có quốc tịch.
2) Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.
Điều 16:
1) Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.
2) Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
3) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.
Điều 17:
1) Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.
2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.
Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.
Điều 20:
1) Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.
2) Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.
Điều 21:
1) Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.
2) Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
3) Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.
Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.
Điều 23:
1) Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.
2) Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.
3) Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.
4) Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.
Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.
Điều 25:
1) Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.
2) Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.
Điều 26:
1) Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.
2) Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình.
3) Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.
Điều 27:
1) Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.
2) Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.
Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.
Điều 29:
1) Ai cũng có nghiã vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.
2) Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.
3) Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.
PHỤ ĐÍNH 1:
CÁC ĐIỀU KHOẢN NHÂN QUYỀN TRONG HIẾN CHƯƠNG LIÊN HIỆP QUỐC (1945)
Điều 1: Những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là:
1. Duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
2. Phát triển tương quan hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, cùng thi hành mọi biện pháp thích nghi để củng cố hòa bình thế giới.
3. Đạt tới sự hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, hay nhân đạo, và phát huy, khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.
Điều 55: Nhằm mục đích đạt được những điều kiện về ổn định và phúc lợi cần thiết cho việc thiết lập những tương quan hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, Liên Hiệp Quốc đề xướng thực thi:
a. Một mức sống cao hơn, sự toàn dụng nhân công và tạo những điều kiện tiến bộ và phát triển về kinh tế xã hội
b. Tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề kinh tế xã hội và văn hóa, thực thi sự hợp tác quốc tế về văn hóa và giáo dục, và
c. Tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.
Điều 56: Các Quốc Gia Hội Viên cam kết, bằng những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực hiện những mục tiêu ghi trong điều 55 nói trên.
- 1Nguyên tắc liên quan đến địa vị của các cơ quan quốc gia về nhân quyền, 1993
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-1:2020 (ISO 34101-1:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 1: Yêu cầu đối với hệ thống quản lý sản xuất cacao bền vừng
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-2:2020 (ISO 34101-2:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 2: Yêu cầu đối với kết quả thực hiện (về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường)
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 10/12/1948
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
