Thông tin chung về văn bản:
- Tên văn bản: Tuyên bố về quyền của những người không phải là công dân nước mà họ đang sinh sống, 1985.
- Số hiệu, Loại văn bản, Cơ quan ban hành, Ngày ban hành, Ngày áp dụng, Tình trạng hiệu lực: Không rõ (theo thông tin được cung cấp).
1. Phạm vi áp dụng và nguyên tắc chung (Điều 1 - Điều 4)
Tuyên bố đặt ra các nền tảng pháp lý ban đầu nhằm định hình đối tượng áp dụng cũng như mối quan hệ pháp lý giữa người nước ngoài và quốc gia sở tại:
- Định nghĩa "người nước ngoài" (Điều 1): Thuật ngữ này được áp dụng cho bất kỳ cá nhân nào không phải là công dân của quốc gia mà họ đang sinh sống.
- Quyền hạn của quốc gia sở tại (Điều 2): Tuyên bố không hợp pháp hóa việc nhập cảnh hoặc cư trú bất hợp pháp của người nước ngoài. Quốc gia sở tại giữ nguyên quyền thực thi luật pháp về nhập cảnh, giới hạn thời gian, điều kiện cư trú và thiết lập sự khác biệt giữa công dân của mình với người nước ngoài. Tuy nhiên, các quy định này không được trái với các nghĩa vụ pháp lý quốc tế về quyền con người của quốc gia đó. Tuyên bố cũng không làm ảnh hưởng đến các quyền rộng hơn mà người nước ngoài được hưởng theo luật pháp quốc tế.
- Nghĩa vụ xây dựng pháp luật (Điều 3): Các quốc gia ký kết có trách nhiệm xây dựng và ban hành luật pháp hoặc các quy định quốc gia cụ thể liên quan đến người nước ngoài.
- Nghĩa vụ của người nước ngoài (Điều 4): Người nước ngoài có bổn phận phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của nước sở tại, đồng thời tôn trọng tập quán và truyền thống của người dân bản địa.
2. Các quyền và tự do cá nhân cốt lõi (Điều 5 - Điều 6)
Tuyên bố ghi nhận một hệ thống quyền dân sự và tự do cá nhân toàn diện cho người nước ngoài, được chia thành các nhóm quyền cụ thể:
- Quyền an toàn cá nhân và tư pháp (Điều 5, Khoản 1): Người nước ngoài được bảo đảm quyền sống, an ninh cá nhân; tuyệt đối không bị bắt giữ hoặc tạm giam tùy tiện. Việc tước đoạt tự do chỉ được thực hiện dựa trên cơ sở pháp lý và thủ tục luật định. Họ có quyền bình đẳng trước tòa án, cơ quan tài phán, được xét xử công bằng và được hỗ trợ người bào chữa miễn phí trong các vụ án hình sự hoặc các vụ kiện khác theo quy định.
- Quyền riêng tư và gia đình (Điều 5, Khoản 1 & 4): Được bảo vệ chống lại sự can thiệp tùy tiện, phi pháp vào đời tư, gia đình, nhà ở hoặc thư tín. Người nước ngoài cư trú hợp pháp có quyền kết hôn, lập gia đình và được bảo đảm quyền đoàn tụ, sinh sống cùng vợ/chồng, con cái chưa thành niên hoặc người phụ thuộc.
- Tự do tư tưởng, tôn giáo và văn hóa (Điều 5, Khoản 1): Được tự do chính kiến, tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo và biểu lộ niềm tin của mình (chỉ chịu giới hạn bởi luật pháp nhằm bảo vệ an ninh, trật tự, sức khỏe, đạo đức công cộng hoặc quyền tự do của người khác). Họ cũng có quyền gìn giữ ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống riêng của mình.
- Quyền tài chính và tài sản (Điều 5, Khoản 1 & 2): Được phép chuyển tiền tiết kiệm, thu nhập hoặc tài sản cá nhân hợp pháp khác ra nước ngoài theo quy định pháp luật. Họ cũng có quyền sở hữu tài sản riêng hoặc sở hữu chung với người khác.
- Quyền tự do đi lại và các quyền tự do dân sự khác (Điều 5, Khoản 2 & 3): Người nước ngoài cư trú hợp pháp có quyền tự do di chuyển và lựa chọn nơi ở trong phạm vi biên giới quốc gia sở tại, cũng như có quyền rời khỏi quốc gia đó. Họ cũng được hưởng quyền tự do biểu đạt và tự do lập hội hòa bình trong khuôn khổ luật pháp của xã hội dân chủ.
- Bảo vệ chống ngược đãi (Điều 6): Tuyệt đối nghiêm cấm việc tra tấn, hành hạ, đối xử hoặc trừng phạt phi nhân tính, hạ thấp phẩm giá đối với người nước ngoài. Đặc biệt, không ai được phép sử dụng người nước ngoài làm vật thí nghiệm y học hoặc khoa học nếu không có sự đồng ý tự nguyện của họ.
3. Quy định về trục xuất và bảo vệ tài sản (Điều 7 & Điều 9)
Nhằm tránh các hành vi lạm quyền từ phía cơ quan công quyền nước sở tại, Tuyên bố thiết lập các rào cản pháp lý nghiêm ngặt:
- Thủ tục trục xuất hợp pháp (Điều 7): Người nước ngoài cư trú hợp pháp chỉ bị trục xuất theo quyết định phù hợp với pháp luật. Trừ trường hợp khẩn cấp vì lý do an ninh quốc gia, họ phải được tạo cơ hội trình bày lý do phản đối việc trục xuất, được xem xét lại hồ sơ và trình bày ý kiến trước cơ quan có thẩm quyền hoặc cá nhân được chỉ định.
- Cấm trục xuất phân biệt đối xử (Điều 7): Nghiêm cấm hoàn toàn việc trục xuất cá nhân hoặc tập thể người nước ngoài dựa trên các yếu tố phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo, văn hóa, nguồn gốc đạo đức, dân tộc hoặc dòng dõi.
- Bảo hộ tài sản (Điều 9): Nghiêm cấm việc tước đoạt tài sản hợp pháp của người nước ngoài một cách tùy tiện.
4. Quyền lao động, xã hội và phúc lợi (Điều 8)
Người nước ngoài định cư hợp pháp được bảo đảm các quyền lợi về kinh tế, lao động và phúc lợi xã hội ngang bằng với công dân nước sở tại:
- Điều kiện lao động và tiền lương: Được làm việc trong môi trường an toàn, bảo đảm sức khỏe; hưởng lương xứng đáng và ngang nhau cho các công việc có giá trị ngang nhau mà không có sự phân biệt đối xử. Đặc biệt, lao động nữ phải được bảo đảm điều kiện làm việc và tiền lương ngang bằng với nam giới trong cùng một công việc.
- Quyền công đoàn: Có quyền gia nhập và hoạt động trong các công đoàn, hiệp hội theo nguyện vọng. Quyền này chỉ bị giới hạn bởi luật pháp vì lý do an ninh quốc gia, trật tự công cộng hoặc bảo vệ quyền tự do của người khác trong một xã hội dân chủ.
- Phúc lợi xã hội và giáo dục: Được bảo đảm quyền chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội, giáo dục và nghỉ ngơi. Các cơ quan nhà nước không được lạm dụng quyền lực để hạn chế các quyền này một cách phi lý.
- Hợp tác quốc tế (Khoản 2): Các quyền lợi nêu trên có thể được cụ thể hóa và bảo vệ thông qua các hiệp ước song phương hoặc đa phương giữa các chính phủ liên quan.
5. Quyền liên hệ ngoại giao và lãnh sự (Điều 10)
Tuyên bố khẳng định quyền tự do của người nước ngoài trong việc liên lạc với cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của quốc gia mà họ mang quốc tịch (hoặc cơ quan đại diện của quốc gia khác được ủy quyền bảo vệ quyền lợi cho họ) tại bất kỳ thời điểm nào để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình tại quốc gia đang sinh sống.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
TUYÊN BỐ VỀ QUYỀN CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG DÂN NƯỚC MÀ HỌ ĐANG SINH SỐNG, 1985
(Được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết số 40/144 ngày 13/12/1985).
Đại Hội đồng,
Xét rằng, Hiến chương Liên Hợp Quốc khuyến khích việc tôn trọng rộng rãi và sự tuân thủ các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người, không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo,
Xét rằng, Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người tuyên bố rằng tất cả mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền, và rằng, mỗi người đều có các quyền và tự do được nêu trong bản Tuyên ngôn đó mà không dựa trên bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo, quan điểm chính trị hay chính kiến khác, nguồn gốc xã hội hay dân tộc, của cải, hoàn cảnh ra đời hay các yếu tố khác,
Xét rằng, Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người nhấn mạnh rằng, mọi người đều có quyền được thừa nhận tư cách con người trước luật pháp ở bất cứ đâu. Rằng, tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không có bất kỳ sự phân biệt nào và đều có quyền được bảo vệ như nhau trước luật pháp. Rằng, tất cả mọi người đều có quyền được bảo vệ như nhau chống lại bất cứ sự phân biệt, vi phạm nào được nêu trong Tuyên ngôn, cũng như chống lại bất cứ hành động xúi giục nào đối với sự phân biệt như vậy,
Nhận thức rằng, các Quốc gia thành viên của các Công ước quốc tế về quyền con người cam kết bảo đảm rằng, các quyền được ghi nhận trong các Công ước này sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay chính kiến khác, nguồn gốc xã hội hay dân tộc, của cải, hoàn cảnh ra đời hay hoàn cảnh khác,
Ý thức rằng, bằng việc nâng cao các phương tiện thông tin và phát triển các quan hệ hòa bình và thân thiện giữa các nước, của những người đang sống ở các nước mà họ không phải là công dân,
Khẳng định lại, mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc,
Nhận thức rằng, việc bảo vệ các quyền và tự do cơ bản được đề cập trong các văn kiện quốc tế cũng cần phải được bảo đảm cho các cá nhân là những người không phải là công dân ở nước mà họ đang sống,
Trịnh trọng quy định các điều khoản sau đây:
Điều 1.
Với mục đích của Tuyên bố này, thuật ngữ "người nước ngoài" sẽ được áp dụng, về số lượng của các quyền này được đề cập trong các điều theo sau, cho bất cứ người nào không phải là công dân ở quốc gia mà họ đang sinh sống,
Điều 2.
1. Không có bất cứ một điều khoản nào trong Tuyên bố này được giải thích nhằm hợp pháp hóa việc nhập cảnh bất hợp pháp và sống tại một quốc gia của bất cứ người nước ngoài nào, và cũng không có một điều khoản nào được viện dẫn cho sự giới hạn quyền của bất cứ quốc gia nào nhằm thực thi luật pháp và các quy định về việc nhập cảnh của những người nước ngoài cũng như thời hạn và điều kiện ở lại của họ, hay nhằm thiết lập những sự khác biệt giữa công dân của họ với người nước ngoài. Tuy nhiên, những quy định và luật như vậy sẽ không phù hợp với trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia đó, những trách nhiệm này liên quan đến lĩnh vực quyền con người.
2. Tuyên bố này sẽ không làm tổn hại đến việc hưởng các quyền được quy định trong luật quốc tế, mà một quốc gia có nghĩa vụ cần phải làm liên quan đến người nước ngoài, thậm chí kể cả ở những nơi Tuyên bố này không thừa nhận những quyền như vậy hay thừa nhận chúng trong một phạm vi hẹp hơn.
Điều 3.
Mỗi quốc gia ký kết cần phải xây dựng pháp luật quốc gia hay những quy định liên quan đến người nước ngoài.
Điều 4.
Người nước ngoài cần phải tuân theo luật pháp của quốc gia mà họ đang sống và cần phải tôn trọng tập quán và truyền thống của người dân ở quốc gia đó.
Điều 5.
1. Người nước ngoài sẽ được hưởng các quyền đặc biệt sau đây phù hợp với pháp luật quốc gia và tuân theo nghĩa vụ quốc tế liên quan của quốc gia mà họ đang sống
a. Quyền sống và an ninh cá nhân; không một người nước ngoài nào có thể bị bắt giữ và tạm giam một cách tùy tiện, không một người nước ngoài nào bị tước bỏ tự do của mình ngoại trừ việc đó được thực hiện căn cứ vào những cơ sở luật pháp và phù hợp với các thủ tục được quy định trong luật pháp;
b. Quyền được bảo vệ chống lại sự can thiệp một cách tùy tiện và phi pháp vào đời tư, gia đình, chỗ ở hay thư từ;
c. Quyền bình đẳng trước tòa án và tất cả các tổ chức và cơ quan tài phán khác, quyền được xét xử sự công bằng và trong trường hợp cần thiết, được một người bào chữa trợ giúp miễn phí trong một vụ án hình sự mà được quy định theo luật pháp, hay trong các vụ kiện khác;
d. Quyền được lựa chọn người phối ngẫu, quyền kết hôn và thành lập gia đình;
e. Quyền tự do tư tưởng chính kiến, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền biểu lộ tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình, chỉ phải tuân theo những giới hạn được quy định trong luật pháp trong trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ trật tự và an ninh công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của cộng đồng hoặc các quyền và tự do cơ bản của những người khác;
f. Quyền được gìn giữ ngôn ngữ văn hóa và truyền thống của mình;
g. Quyền được gửi tiền tiết kiệm, thu nhập hay các tài sản cá nhân khác ra nước ngoài tuân theo những quy định của pháp luật;
2. Tuân theo những giới hạn được quy định trong luật pháp và điều này mà là cần thiết ở trong xã hội dân chủ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe và đạo đức cộng đồng hay các quyền và tự do cơ bản của những người khác, và phù hợp với các quyền khác đươc thừa nhận trong các văn kiện quốc tế liên quan và trong các điều khoản của Tuyên bố này, những người nước ngoài sẽ có các quyền sau:
a. Quyền được rời khỏi đất nước mình;
b. Quyền tự do biểu đạt;
c. Quyền tự do lập hội hòa bình;
d. Quyền tự do sở hữu tài sản riêng cũng như sở hữu chung với những người khác tuân theo luật quốc gia.
3. Tuân theo các điều khoản được đề cập trong khoản 2, những người nước ngoài sống một cách hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia có quyền tự do di chuyển và tự do lựa chọn nơi ở trong phạm vi biên giới của quốc gia đó.
4. Tuân theo luật pháp quốc gia và việc ủy quyền, vị hôn thê, trẻ em nhỏ tuổi và lệ thuộc của một người nước ngoài cư trú một cách hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia có quyền được chấp nhận đi kèm theo, tham gia vào hay sống cùng với người.
Điều 6.
Không một người nước ngoài nào có thể là đối tượng bị tra tấn hay hành hạ, đối xử hay trừng phạt phi nhân tính hay hạ thấp phẩm giá, và đặc biệt không người nước ngoài nào bị trở thành vật thí nghiệm khoa học hay y học mà không có sự nhất trí một cách tự nguyện của họ.
Điều 7.
Một người nước ngoài sống hợp pháp trên lãnh thổ một quốc gia có thể chỉ bị trục xuất theo một quyết định được đưa ra phù hợp với luật pháp, trong hoàn cảnh đó ngoại trừ trường hợp có những lý do bắt buộc liên quan đến yêu cầu về an ninh quốc gia, người ấy được phép trình bày những lý do chứng minh rằng tại sao họ không thể bị trục xuất và được xem xét lại trường hợp của mình, cũng như được trình bày theo ý nguyện của mình trước cơ quan có thẩm quyền hoặc cá nhân hay những người đặc biệt được chỉ định bởi cơ quan có thẩm quyền. Nghiêm cấm việc trục xuất các cá nhân hay tập thể người nước ngoài dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, tôn giáo, văn hóa, nguồn gốc đạo đức, dân tộc hay dòng dõi.
Điều 8.
1. Người nước ngoài định cư hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia có quyền được hưởng các quyền sau, phù hợp với pháp luật quốc gia và tuân theo nghĩa vụ của Điều 4:
a. Quyền có điều kiện làm việc an toàn và sức khỏe, được hưởng lương xứng đáng và được hưởng lương ngang nhau đối với công việc có giá trị ngang nhau mà không có bất cứ sự phân biệt nào; đặc biệt là phụ nữ phải được đảm bảo điều kiện làm việc không kém hơn nam giới và được trả lương ngang nhau trong cùng một công việc ngang nhau;
b. Quyền gia nhập công đoàn và các tổ chức hoặc hiệp hội khác theo nguyện vọng của mình và được tham gia các hoạt động của các hiệp hội đó. Không có giới hạn được áp dụng trong việc thực hiện quyền này trừ trường hợp những giới hạn đó được quy định trong luật pháp và là cần thiết, ở một xã hội dân chủ, vì lợi ích của an ninh quốc gia và trật tự công cộng hoặc để bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của các cá nhân khác;
c. Quyền được bảo vệ sức khỏe chăm sóc y tế, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội, giáo dục, nghỉ ngơi. Họ cũng phải tuân theo các quy định có liên quan trong quá trình tham gia vào các lĩnh vực đó và rằng các cơ quan chức năng của Nhà nước không được lạm dụng quyền lực một cách phi lý.
2. Với quan điểm nhằm bảo vệ quyền của người nước ngoài được tiếp tục các hoạt động một cách hợp pháp trên đất nước mà họ đang sống, các quyền như vậy có thể được các chính phủ có liên quan quy định cụ thể trong các hiệp ước song phương và đa phương.
Điều 9.
Không một người nước ngoài nào bị tước bỏ một cách tùy tiện các tài sản hợp pháp của mình.
Điều 10.
Bất kể người ngoài cũng có quyền tự do, tại bất cứ thời điểm nào, được liên hệ với lãnh sự quán hoặc cơ quan ngoại giao của quốc gia mà họ là một công dân, hoặc trong trường hợp vắng mặt, với cơ quan ngoại giao hoặc lãnh sự quán của quốc gia khác được ủy quyền, nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia mà họ là công dân tại quốc gia mà họ đang sống.
Tuyên bố về quyền của những người không phải là công dân nước mà họ đang sinh sống, 1985
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 13/12/1985
- Nơi ban hành: Liên hợp quốc
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
