Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6381:1998
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6381:1998 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 3297:1986 về Tư liệu - Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN). Tiêu chuẩn này thiết lập các quy tắc thống nhất nhằm định danh các xuất bản phẩm nhiều kỳ thông qua một mã số tiêu chuẩn duy nhất, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, lưu trữ, trao đổi thông tin thư viện và hoạt động xuất bản trên phạm vi toàn cầu.
Điều 1: Phạm vi áp dụng
Điều khoản này xác định rõ giới hạn và đối tượng điều chỉnh của tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn áp dụng đối với tất cả các xuất bản phẩm nhiều kỳ, không phân biệt ngôn ngữ, quốc gia xuất bản hay phương thức phát hành.
- Đối tượng áp dụng bao gồm các loại hình ấn phẩm định kỳ truyền thống như báo, tạp chí, niên giám, bản tin, kỷ yếu của các hội nghị/hội thảo thường kỳ, báo cáo thường niên, và các bộ sách xuất bản nhiều kỳ.
- Tiêu chuẩn cũng mở rộng phạm vi áp dụng cho các xuất bản phẩm nhiều kỳ được thể hiện dưới các định dạng phi in ấn như bản điện tử, vi phim, đĩa CD-ROM hoặc các phương tiện truyền thông số khác.
Điều 2: Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn đưa ra các định nghĩa cơ bản để thống nhất cách hiểu và áp dụng:
- Xuất bản phẩm nhiều kỳ (Serial): Là tài liệu được xuất bản thành nhiều phần nối tiếp nhau, thường có thứ tự số hoặc niên giám, dự kiến sẽ kéo dài vô hạn.
- Tên chính thức (Key Title): Là tên gọi duy nhất được gán cho một xuất bản phẩm nhiều kỳ bởi cơ quan quản lý ISSN có thẩm quyền, gắn liền với mã số ISSN của xuất bản phẩm đó để phân biệt với các ấn phẩm khác có tên tương tự.
- Mã số ISSN (International Standard Serial Number): Là mã số tiêu chuẩn quốc tế gồm 8 chữ số dùng để định danh duy nhất cho một xuất bản phẩm nhiều kỳ cụ thể.
Điều 3: Cấu trúc và cách trình bày mã số ISSN
Quy định chi tiết về mặt kỹ thuật đối với cấu trúc của mã số ISSN:
- Mã số ISSN bao gồm 8 chữ số, được chia thành hai nhóm, mỗi nhóm gồm 4 chữ số và được ngăn cách với nhau bằng một dấu gạch nối (-). Ví dụ: ISSN 1234-5679.
- Chữ số cuối cùng (chữ số thứ 8) đóng vai trò là chữ số kiểm tra (check digit), được tính toán theo thuật toán modulo 11 để phát hiện sai sót trong quá trình nhập liệu. Chữ số kiểm tra này có thể là một số từ 0 đến 9 hoặc là chữ cái "X" (đại diện cho giá trị 10).
- Khi trình bày trên xuất bản phẩm, mã số ISSN phải luôn được đi kèm với tiền tố "ISSN" phía trước và có khoảng trắng ngăn cách giữa tiền tố và dãy số. Vị trí trình bày thông thường là ở góc trên bên phải của trang bìa hoặc trang tên sách.
Điều 4: Nguyên tắc cấp và quản lý mã số ISSN
Quy định về mặt tổ chức và nguyên tắc vận hành hệ thống ISSN:
- Mã số ISSN được cấp bởi hệ thống các Trung tâm ISSN quốc gia dưới sự điều phối và giám sát chung của Trung tâm ISSN quốc tế.
- Mỗi mã số ISSN chỉ được cấp duy nhất cho một tên chính thức (key title) của xuất bản phẩm nhiều kỳ. Khi xuất bản phẩm có sự thay đổi lớn về tên gọi chính thức, bắt buộc phải đăng ký và cấp một mã số ISSN mới để tránh nhầm lẫn.
- Mã số ISSN thuần túy là một công cụ định danh kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý thông tin, không có giá trị pháp lý về mặt bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả hay nội dung của xuất bản phẩm.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
TƯ LIỆU, MÃ SỐ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ CHO XUẤT BẢN PHẨM NHIỀU KỲ (ISSN)
Documentation - International standard serial numbering (ISSN)
Mở đầu
Đã từ lâu người ta nhận thấy rằng cần có một mã ngắn gọn, đơn nhất, đơn nghĩa để nhận biết các xuất bản phẩm nhiều kỳ.
Sự trao đổi thông tin giữa các hệ thống máy tính của các cơ quan khác nhau như người sử dụng (thư viện, các dịch vụ làm tóm tắt và những người sử dụng khác), người cung cấp hoặc người phân phối và các nhà xuất bản và sản xuất yêu cầu cần phải có một mã chuẩn.
Sự giao tiếp giũa những tổ chức khác nhau vượt ra ngoài biên giới quốc gia và do đó đòi hỏi một mã quốc tế mà mã này phải là mã dạng số vì không có một bảng chữ cái riêng biệt nào được đa số các nhà sản xuất và sử dụng xuất bản phẩm nhiều kỳ áp dụng.
Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN) không mang một ý nghĩa nào khác ngoài việc phân định một cách đơn nhất tên xuất bản phẩm. Nó không phản ánh các đặc trưng của tên gọi được phân định.
ISSN 1) được áp dụng cho tất cả các số của xuất bản phẩm nhiều kỳ, bao gồm đã, đang và sẽ xuất bản trong tương lai.
Để thỏa mãn các yêu cầu khác nữa, mã số ISSN có thể đi kèm với các mã liên quan, chẳng hạn để phân biệt nước xuất bản hoặc các đơn vị nhỏ hơn của xuất bản phẩm nhiều kỳ như tập và phần.
Cần có một tổ chức quốc tế để thực hiện mã số ISSN. Hệ thống dữ liệu xuất bản phẩm nhiều kỳ quốc tế (ISDS), một tổ chức liên chính phủ được thành lập trong khuôn khổ chương trình UNESCO/UNISIST, là cơ quan được chỉ định để kiểm soát việc cấp mã số ISSN.
ISDS là một mạng lưới của các trung tâm quốc gia và vùng, do một trung tâm quốc tế điều phối. Các trung tâm quốc gia chịu trách nhiệm đăng ký xuất bản phẩm nhiều kỳ trong nước mình và một số trung tâm quốc gia có thể quyết định cùng thành lập một trung tâm vùng, do các lý do kinh tế, địa lý hoặc ngôn ngữ.
Nếu không có các trung tâm quốc gia hoặc vùng có thẩm quyền, trung tâm quốc tế sẽ tiến hành đăng ký và cấp mã số ISSN. Trung tâm quốc tế cũng có trách nhiệm trong việc cấp một lượng mã số ISSN cho các trung tâm quốc gia và vùng trong việc điều phối mọi hoạt động trong khuôn khổ mạng lưới và trong việc xuất bản danh mục mã số ISSN quốc tế 2).
TƯ LIỆU- MÃ SỐ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ CHO XUẤT BẢN PHẨM NHIỀU KỲ* (ISSN)
Documentation - International standard serial numbering (ISSN)
1. Phạm vi và lĩnh vực áp dụng
Mục đích của tiêu chuẩn này là quy định và khuyến khích việc sử dụng mã chuẩn (ISSN) để nhận biết một cách đơn nhất các xuất bản phẩm nhiều kỳ.
ISO 2709 Tư liệu – Thể thức cho trao đổi thông tin thư mục trên băng từ.
Các định nghĩa sau đây được áp dụng trong tiêu chuẩn này.
3.1. Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN): dãy số gồm tám chữ số kể cả chữ số kiểm tra và được đặt sau tiền tố ISSN.
3.2. Tên khóa: tên đơn nhất do hệ thống dữ liệu xuất bản phẩm nhiều kỳ ISDS (International Serials Data System) cấp cho một xuất bản phẩm nhiều kỳ và gắn liền với mã số ISSN của nó.
3.3. Xuất bản phẩm nhiều kỳ: xuất bản phẩm, dưới dạng bản in hoặc không phải bản in, được phát hành thành những phần kế tiếp nhau thường được đánh bằng số hoặc theo thứ tự thời gian và được dự định xuất bản kéo dài trong một khoảng thời gian không xác định.
Các xuất bản phẩm nhiều kỳ bao gồm các xuất bản phẩm định kỳ, báo, xuất bản phẩm hàng năm (báo cáo, niêm giám, danh bạ. v…v…), các tạp chí, hồi ký, văn kiện hội nghị, kỷ yếu ..v.v.. của các hội và các
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6381:1998 (ISO 3297 : 1986) về Tư liệu - Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN)
- Số hiệu: TCVN6381:1998
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/1998
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/08/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
