Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5906:1995 (hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 1101:1983) là văn bản kỹ thuật cốt lõi quy định về dung sai hình dạng và vị trí trên các bản vẽ kỹ thuật. Tiêu chuẩn này thiết lập các nguyên tắc chung, hệ thống ký hiệu trực quan và chỉ dẫn thống nhất nhằm đảm bảo tính lắp lẫn, độ chính xác chế tạo và chất lượng tối ưu của các chi tiết máy trong ngành cơ khí và chế tạo.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết nội dung Phần mở đầu và các điều khoản đầu (từ Điều 1 đến Điều 4) của TCVN 5906:1995:
- Điều 1: Phạm vi áp dụng
- Tiêu chuẩn này quy định các nguyên tắc cơ bản và phương pháp biểu diễn dung sai hình học trên bản vẽ kỹ thuật, bao gồm dung sai hình dạng, dung sai hướng, dung sai vị trí và độ đảo.
- Đối tượng áp dụng bao gồm tất cả các bản vẽ thiết kế kỹ thuật thuộc ngành cơ khí chế tạo, xây dựng, chế tạo máy và các ngành công nghiệp liên quan có sử dụng tài liệu thiết kế dạng bản vẽ.
- Mục tiêu của tiêu chuẩn là thiết lập một ngôn ngữ ký hiệu chung mang tính quốc tế, loại bỏ hoàn toàn các mô tả bằng chữ rườm rà, từ đó tránh những cách hiểu sai lệch giữa các khâu thiết kế, gia công chế tạo và kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Điều 2: Tiêu chuẩn trích dẫn
- Văn bản này liên kết chặt chẽ và đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và tiêu chuẩn quốc tế (ISO) khác về dung sai, lắp ghép, nhám bề mặt và các nguyên tắc ghi kích thước chung trên bản vẽ kỹ thuật.
- Các tài liệu viện dẫn này tạo thành một hệ thống quy chuẩn hoàn chỉnh, hỗ trợ kỹ sư trong việc xác định chính xác các yêu cầu kỹ thuật của chi tiết máy.
- Điều 3: Định nghĩa và khái niệm cơ bản
- Yếu tố (Feature): Là thuật ngữ dùng để chỉ các phần cụ thể cấu thành nên chi tiết máy như bề mặt ngoài, đường thẳng, đường tâm, trục hoặc mặt phẳng trung hòa.
- Dung sai hình học (Geometrical Tolerance): Là giới hạn sai lệch cho phép tối đa của hình dạng thực tế, hướng thực tế hoặc vị trí thực tế của một yếu tố so với hình dạng, hướng hoặc vị trí lý thuyết chính xác của nó.
- Miền dung sai (Tolerance Zone): Là vùng không gian giới hạn (có thể là hình tròn, hình trụ, khoảng cách giữa hai đường thẳng song song hoặc hai bề mặt song song) mà trong đó yếu tố được chỉ định dung sai phải nằm gọn vào để được coi là đạt yêu cầu kỹ thuật.
- Yếu tố chuẩn (Datum): Là yếu tố hình học lý thuyết có độ chính xác tuyệt đối (như một trục quay, một mặt phẳng chuẩn) được dùng làm căn cứ để xác định vị trí, hướng hoặc độ đảo của các yếu tố khác trên chi tiết.
- Điều 4: Nguyên tắc chung và Hệ thống ký hiệu
Điều khoản này quy định chi tiết cách thức thể hiện các yêu cầu dung sai hình học trên bản vẽ thông qua các ký hiệu đặc trưng và khung dung sai tiêu chuẩn:
- Khung dung sai (Tolerance Frame): Các yêu cầu về dung sai hình học bắt buộc phải được đặt trong một khung hình chữ nhật được chia thành hai hoặc nhiều ô. Ô thứ nhất chứa ký hiệu đặc trưng của loại dung sai; ô thứ hai chứa trị số dung sai tính bằng milimét; ô thứ ba (và các ô tiếp theo nếu có) chứa chữ cái in hoa ký hiệu của yếu tố chuẩn.
- Ký hiệu dung sai hình dạng: Gồm các ký hiệu trực quan cho độ thẳng (đường thẳng), độ phẳng (hình bình hành), độ tròn (đường tròn), độ trụ (hai đường thẳng song song giới hạn bởi hai cung tròn), hình dáng đường và hình dáng bề mặt.
- Ký hiệu dung sai hướng: Gồm ký hiệu cho độ song song (hai đường chéo song song), độ vuông góc (góc vuông), và độ nghiêng (góc nhọn).
- Ký hiệu dung sai vị trí: Gồm ký hiệu cho dung sai vị trí (hình tròn có chữ thập bên trong), độ đồng tâm/độ đồng trục (hai vòng tròn đồng tâm), và độ đối xứng (ba đường ngang song song có độ dài khác nhau).
- Ký hiệu dung sai độ đảo: Gồm độ đảo hướng kính/độ đảo mặt đầu (mũi tên nghiêng) và độ đảo toàn bộ (hai mũi tên nghiêng song song nối với nhau).
- Chỉ dẫn liên kết trên bản vẽ: Khung dung sai được nối với yếu tố được chỉ định dung sai bằng một đường dẫn có mũi tên chỉ thẳng vào bề mặt hoặc đường gióng của bề mặt đó. Nếu dung sai áp dụng cho đường tâm hoặc mặt phẳng trung hòa, mũi tên của đường dẫn phải trùng với đường kích thước của yếu tố.
Việc áp dụng nghiêm ngặt các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 của TCVN 5906:1995 giúp chuẩn hóa quy trình thiết kế kỹ thuật, tối ưu hóa quá trình gia công trên các máy công cụ CNC hiện đại, đồng thời đơn giản hóa công tác kiểm tra kích thước hình học bằng các thiết bị đo tọa độ tiên tiến (CMM).
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
DUNG SAI HÌNH DẠNG VÀ VỊ TRÍ - QUI ĐỊNH CHUNG, KÝ HIỆU, CHỈ DẪN TRÊN BẢN VẼ
Tolerances of form and of position - Generalities, symbols, indications on drawings
Tiêu chuẩn này quy định những nguyên tắc ghi ký hiệu và chỉ dẫn trên bản vẽ về dung sai hình dạng, hướng, và độ dẻo.
2.1. Dung sai hình dạng và vị trí chỉ được ghi ở chỗ cần thiết của chi tiết, nhằm đảm bảo được tính năng và tính đổi lẫn của chi tiết.
2.2. Khi chỉ ghi dung sai kích thước, thì dung sai này đã bao hàm cả dung sai hình dạng và vị trí (thí dụ độ phẳng, độ song song, xem mục 3 của bảng 1).
2.3. Nếu phạm vi dung sai hình dạng và vị trí khác với phạm vi dung sai kích thước của một yếu tố, thì cần phải ghi dung sai hình dạng và vị trí của yếu tố đó.
2.4. Dung sai hình dạng và vị trí được ghi ngay cả khi không ghi dung sai kích thước.
2.5. Các chỉ dẫn về dung sai hình dạng và vị trí không nhất thiết bao gồm chỉ dẫn về phương pháp gia công, đo lường hay điều chỉnh.
2.6. Dung sai hình dạng và vị trí của một yếu tố hình học (điểm, đường, mặt hay mặt phẳng đối xứng…) xác định miền chứa yếu tố đó.
Tùy theo các đặc trưng cần ghi dung sai và cách ghi, miền dung sai là một trong các miền sau:
- miền bị bao trong đường tròn;
- miền bị bao trong hình vành khuyên giữa hai đường tròn;
- miền bị bao giữa hai đường song song hay giữa hai đường thẳng song song;
- miền bị bao trong mặt cầu;
- miền bị bao trong mặt trụ hay giữa hai mặt trụ đồng trục;
- miền bị bao giữa hai mặt song song hay giữa hai mặt phẳng song song;
- miền bị bao trong hình hộp.
Chú thích:
1) Hình dạng của yếu tố được xem là đúng, khoảng cách từ mỗi điểm của nó đến mặt áp có dạng mặt hình học lý tưởng là bằng hay nhỏ hơn giá trị của dung sai đã cho. Hướng của mặt lý tưởng cần chọn sao cho khoảng cách lớn nhất từ bề mặt thực đến mặt lý tưởng là nhỏ nhất.
Các hướng của mặt lý tưởng có thể là:
A1 – B1 , A2 – B2 , A3 – B3
Các khoảng cách tương ứng h1 , h2 , h3
Trong trường hợp hình 1 h1 < h2 < h3
2) Trong trường hợp cần thiết có thể ghi vị trí một số điểm làm thành yếu tố chuẩn tạm thời để chế tạo hoặc kiểm tra chi tiết (hình 1)

Hình 1
2.7. Yếu tố được quy định dung sai có thể có hình dạng hay hướng bất kỳ ở trong miền dung sai, trừ trường hợp đã có chỉ dẫn trong phần chú thích.
2.8. Trừ các chỉ dẫn như ở điều 3.5 và 3.7, dung sai được ghi là dung sai của toàn bộ chiều dài hay của toàn bộ bề mặt của yếu tố.
2.9. Yếu tố chuẩn là yếu tố mà từ đó xác định dung sai vị trí, hướng hay độ đảo.
2.10. Hình dạng của yếu tố chuẩn đủ chính xác, trong trường hợp cần thiết phải ghi dung sai cho các yếu tố chuẩn.
Dung sai hình dạng và vị trí được chỉ dẫn trên các bản vẽ bằng các ký hiệu quy định ở bảng 1.
Bảng 1
| Các đặc trưng cần ghi dung sai | ||
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2244:1999 (ISO 286-1:1988) về hệ thống ISO về dung sai và lắp ghép – cơ sở của dung sai – sai lệch và lắp ghép
- 2Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9262-2:2012 (ISO 7976-2:1989) về Dung sai trong xây dựng công trình - Phương pháp đo kiểm công trình và cấu kiện chế sẵn của công trình - Phần 2: Vị trí các điểm đo
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 2263-1:2007 (ISO 2768 :1989)về Dung sai chung - Phần 1: Dung sai của các kích thước dài và góc không chỉ dẫn dung sai riêng
- 1Quyết định 914/QĐ-BKHCN năm 2007 hủy bỏ Tiêu chuẩn Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2244:1999 (ISO 286-1:1988) về hệ thống ISO về dung sai và lắp ghép – cơ sở của dung sai – sai lệch và lắp ghép
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5906:2007 (ISO 1101 : 2004) về Đặc tính hình học của sản phẩm (GPS) - Dung sai hình học - Dung sai hình dạng, hướng, vị trí và độ đảo
- 4Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9262-2:2012 (ISO 7976-2:1989) về Dung sai trong xây dựng công trình - Phương pháp đo kiểm công trình và cấu kiện chế sẵn của công trình - Phần 2: Vị trí các điểm đo
- 5Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 2263-1:2007 (ISO 2768 :1989)về Dung sai chung - Phần 1: Dung sai của các kích thước dài và góc không chỉ dẫn dung sai riêng
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5906:1995 về Dung sai hình dạng và vị trí - Quy định chung, ký hiệu, chỉ dẫn trên bản vẽ
- Số hiệu: TCVN5906:1995
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 12/07/1995
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/08/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
