Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4996-2:2008 (hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 7971-2:1995) quy định phương pháp thông thường để xác định dung trọng của ngũ cốc, hay còn gọi là "khối lượng trên 100 lít". Đây là một chỉ tiêu vật lý cực kỳ quan trọng trong việc đánh giá chất lượng, phân loại thương mại và tính toán hiệu suất thu hồi bột trong quá trình chế biến ngũ cốc. Dưới đây là phần tóm tắt chuyên sâu và chi tiết về Phần mở đầu cùng các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của tiêu chuẩn này.
- Điều 1: Phạm vi áp dụng (Scope)
- Tiêu chuẩn này quy định cụ thể phương pháp thông thường (phương pháp thực hành hàng ngày tại các phòng thử nghiệm hoặc cơ sở thu mua) để xác định dung trọng (khối lượng trên hectolít) của các loại ngũ cốc thương mại.
- Phương pháp này sử dụng thiết bị đo dung tích 1 lít (hoặc các thiết bị đo thông thường khác đã được hiệu chuẩn phù hợp) nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, tiện lợi nhưng vẫn duy trì độ chính xác cần thiết cho các giao dịch thương mại và kiểm soát chất lượng nội bộ.
- Tiêu chuẩn áp dụng rộng rãi cho hầu hết các loại hạt ngũ cốc phổ biến như lúa mì, lúa mạch, yến mạch, lúa rye (hắc mạch), ngô, triticale và các loại hạt tương tự.
- Điều 2: Tài liệu viện dẫn (Normative references)
- Để áp dụng tiêu chuẩn này một cách chính xác, việc viện dẫn các tài liệu kỹ thuật liên quan là bắt buộc nhằm đảm bảo tính đồng bộ và nhất quán trong đo lường.
- TCVN 4996-1 (ISO 7971-1) về Ngũ cốc - Xác định dung trọng (khối lượng trên 100 lít) - Phần 1: Phương pháp chuẩn. Đây là tài liệu tham chiếu tối quan trọng dùng để hiệu chuẩn các thiết bị đo thông thường được sử dụng trong Phần 2 này.
- Các tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế liên quan đến phương pháp lấy mẫu ngũ cốc (như ISO 950 hoặc các tiêu chuẩn lấy mẫu tương đương) nhằm đảm bảo mẫu thử nghiệm đưa vào đo lường có tính đại diện cao nhất cho toàn bộ lô hàng.
- Điều 3: Thuật ngữ và định nghĩa (Terms and definitions)
- Dung trọng (Bulk density) hay Khối lượng trên 100 lít (Mass per hectolitre): Được định nghĩa là tỷ số giữa khối lượng của một mẫu ngũ cốc và thể tích mà nó chiếm chỗ sau khi được đổ vào một bình chứa theo các điều kiện kỹ thuật được quy định nghiêm ngặt trong tiêu chuẩn này.
- Đơn vị đo lường chính thức của dung trọng được biểu thị bằng kilôgam trên hectolít (kg/hl) hoặc kilôgam trên 100 lít.
- Tiêu chuẩn nhấn mạnh rằng trị số dung trọng phụ thuộc rất lớn vào phương pháp đổ, tốc độ đổ, chiều cao rơi tự do của hạt và độ chặt của khối hạt trong bình chứa. Do đó, việc tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật là bắt buộc để tránh sai số.
- Điều 4: Nguyên tắc của phương pháp (Principle)
- Nguyên tắc cốt lõi của phương pháp thông thường là tiến hành đổ một lượng mẫu ngũ cốc xác định vào một dụng cụ đo có thể tích danh định (thông thường là bình chứa dung tích 1 lít) thông qua một phễu nạp tiêu chuẩn dưới các điều kiện rơi tự do được kiểm soát hoàn toàn.
- Sau khi hạt đã đầy bình, sử dụng một dao gạt chuyên dụng để gạt phẳng bề mặt hạt ngang bằng với miệng bình chứa, đảm bảo thể tích hạt trong bình đúng bằng thể tích thiết kế của dụng cụ đo.
- Tiến hành cân khối lượng hạt chứa trong bình bằng cân kỹ thuật có độ chính xác phù hợp theo yêu cầu.
- Khối lượng hạt thu được sau đó sẽ được quy đổi sang đơn vị kilôgam trên hectolít (kg/hl) bằng cách nhân với hệ số quy đổi tương ứng hoặc tra cứu bảng hiệu chuẩn đi kèm với thiết bị đo cụ thể (thiết bị này phải được đối chiếu định kỳ với thiết bị chuẩn theo quy định tại Phần 1).
Việc nắm vững và áp dụng chính xác các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 của TCVN 4996-2:2008 là nền tảng bắt buộc để các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm thiết lập quy trình vận hành chuẩn (SOP), hạn chế tối đa các sai số hệ thống và sai số ngẫu nhiên trong quá trình xác định dung trọng ngũ cốc thực tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Cereals - Determination of bulk density, called "mass per hectolitre" - Part 2: Routine method
Lời nói đầu
TCVN 4996-2:2008 hoàn toàn tương đương với ISO 7971-2:1995;
TCVN 4996-2:2008 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn TCVN/TC/F1 Ngũ cốc và đậu đỗ biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Bộ tiêu chuẩn TCVN 4996 (ISO 7971) Ngũ cốc - Xác định dung trọng, còn gọi là "khối lượng trên 100 lít" gồm các phần sau đây:
- TCVN 4996-1:2008 (ISO 7971-1:2003) Ngũ cốc - Xác định dung trọng, còn gọi là "khối lượng trên 100 lít" - Phần 1: Phương pháp chuẩn;
- TCVN 4996-2:2008 (ISO 7971-2:1995) Ngũ cốc - Xác định dung trọng, còn gọi là "khối lượng trên 100 lít" - Phần 2: Phương pháp thông thường.
NGŨ CỐC - XÁC ĐỊNH DUNG TRỌNG, CÒN GỌI LÀ "KHỐI LƯỢNG TRÊN 100 LÍT" - PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP THÔNG THƯỜNG
Cereals - Determination of bulk density, called "mass per hectolitre" - Part 2: Routine method
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp thường xuyên để xác định dung trọng, còn gọi là "khối lượng trên 100 l", của ngũ cốc (bột mì, lúa mạch, yến mạch và lúa mạch đen), bằng ống đong 1l.
CHÚ THÍCH
1) Xác định dung trọng "khối lượng trên 100 l" bằng phương pháp chuẩn được quy định trong TCVN 4996-1:2008 (ISO 7971-1:2003) (xem [1]).
2. Ở các nước khác nhau sử dụng các phương pháp thông thường khác.
Trong tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau đây:
2.1. Khối lượng trên 100 lít (mass per hectolitre)
Tỷ số giữa khối lượng hạt ngũ cốc và thể tích mà nó chiếm chỗ sau khi được rót vào vật chứa trong các điều kiện xác định.
Biểu thị bằng kilôgam trên 100 l ở độ ẩm xác định.
CHÚ THÍCH 3: Dung trọng được mô tả trong tiêu chuẩn này sẽ không được nhầm với "mật độ đóng gói" hoặc tỷ trọng thực của ngũ cốc.
Dùng phễu rót mẫu vào vật chứa có dung tích 1 l, sau đó đem cân.
4. Yêu cầu đối với thiết bị và dụng cụ
Sự khác nhau giữa các dụng cụ và các lỗi thao tác trong khi đo có thể xảy ra khi rót hạt vào thùng đo và do cách xếp chặt hạt vào thùng đo.
Để giảm tối thiểu sự khác nhau và sai sót lỗi thì các kích thước khác nhau của dụng cụ và cách rót mẫu sẽ phải được kiểm soát chặt chẽ. Các thiết bị sử dụng và phương pháp tiến hành phải phù hợp với các quy định trong điều này và điều 5 (xem Hình 1).
CHÚ THÍCH 4: Tham khảo khuyến nghị của EC về thiết bị đo dùng để xác định khối lượng chuẩn EEC trên thể tích bảo quản hạt trong Phụ lục II của tài liệu tham khảo [2].
4.1. Ống đong ban đầu
Ống đong ban đầu được làm bằng kim loại và có hình trụ cạnh thẳng, được đóng cuối đáy bằng đĩa đáy phẳng. Thành bên trong có vạch mức hình vòng, cách miệng của ống đong không nhỏ hơn 1 cm và không lớn hơn 3 cm.
CHÚ THÍCH 5: Mục đích của ống đong ban đầu là để kiểm tra phễu (4.2) khi đổ hạt nhằm giảm hoặc loại bỏ lỗi thao tác có thể xảy ra.

Hình 1 - Thiết bị xác định dung trọng của ngũ cốc bằng ống đong 1 l
4.2. Phễu
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4996:1989 (ISO 7971-1986) về ngũ cốc - phương pháp xác định dung trọng "khối lượng của 100 lít" - Phương pháp chuẩn do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành
- 2Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5451:2008 (ISO 13690:1999) về ngũ cốc, đậu đỗ và sản phẩm nghiền - lấy mẫu từ khối hàng tĩnh
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4996-2:2008 (ISO 7971-2 : 1995) về ngũ cốc - xác định dung trọng, còn gọi là "khối lượng trên 100 lít" - Phần 2: Phương pháp thông thường
- Số hiệu: TCVN4996-2:2008
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/2008
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 17/09/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
