Thông tư liên tịch số 96/2005/TTLT-BTC-BCA được ban hành bởi Bộ Tài chính và Bộ Công an nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 05/2001/TTLT-BTC-BCA hướng dẫn thực hiện Quyết định số 31/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ phòng, chống ma túy. Văn bản này tập trung điều chỉnh các quy định về nguồn hình thành, nội dung chi, công tác quản lý và quyết toán Quỹ phòng, chống ma túy ở cả cấp trung ương và cấp tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia vào việc quản lý, sử dụng, đóng góp và thụ hưởng từ Quỹ phòng, chống ma túy. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp bao gồm lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng (Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển), Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính), các cơ quan tư pháp, Ủy ban nhân dân các cấp, cùng các cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản trong công tác đấu tranh phòng, chống ma túy.
Nguồn hình thành Quỹ phòng, chống ma túy
- Tiền mặt bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ thu giữ được từ các vụ án phạm tội về ma túy sau khi có quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước của cơ quan có thẩm quyền.
- Tiền bán đấu giá các tài sản, phương tiện, tang vật tịch thu từ các vụ án phạm tội về ma túy sau khi đã khấu trừ các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản tịch thu.
- Các khoản đóng góp, tài trợ, viện trợ tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài dành riêng cho công tác phòng, chống ma túy.
- Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước trong các trường hợp đặc biệt khi nguồn thu của Quỹ không đủ đáp ứng các yêu cầu chi cấp bách theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Quy định về phân chia nguồn thu cho Quỹ các cấp
- Đối với các vụ án do cơ quan chức năng cấp trung ương trực tiếp thụ lý, điều tra và xử lý: Toàn bộ số tiền và tiền bán tài sản tịch thu được trích nộp 100% vào Quỹ phòng, chống ma túy Trung ương do Bộ Công an quản lý.
- Đối với các vụ án do cơ quan chức năng cấp địa phương thụ lý, điều tra và xử lý: Nguồn tiền thu được sẽ được phân chia theo tỷ lệ phần trăm cụ thể giữa Quỹ Trung ương và Quỹ cấp tỉnh để đảm bảo tính chủ động cho địa phương trong việc chi dùng cho các hoạt động phá án tại chỗ.
Nội dung chi và mức chi từ Quỹ phòng, chống ma túy
- Chi hỗ trợ trực tiếp cho công tác đấu tranh, triệt phá các vụ án ma túy của các lực lượng chuyên trách (Công an, Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan) bao gồm chi phí điều tra, mua tin ngoại tuyến, và mua sắm trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ đặc thù.
- Chi khen thưởng cho các tập thể, cá nhân (bao gồm cả quần chúng nhân dân) có thành tích xuất sắc trong việc phát hiện, tố giác, ngăn chặn và đấu tranh với tội phạm ma túy.
- Chi hỗ trợ đền bù, trợ cấp một lần hoặc định kỳ cho cán bộ, chiến sĩ và công dân bị thương, bị phơi nhiễm HIV/AIDS hoặc hy sinh, tử vong trong quá trình trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy.
- Chi hỗ trợ cho công tác cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện tại các cơ sở bắt buộc hoặc tại cộng đồng, và hỗ trợ các chiến dịch tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng chống ma túy.
Công tác lập dự toán, quản lý và quyết toán Quỹ
- Hằng năm, cơ quan quản lý Quỹ ở trung ương (Bộ Công an) và địa phương (Công an cấp tỉnh) có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp để lập dự toán thu, chi của Quỹ, bảo đảm nguyên tắc cân đối và không trùng lặp với ngân sách nhà nước cấp thường xuyên.
- Việc quản lý và sử dụng Quỹ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ hiện hành, bảo đảm tính công khai, minh bạch và đúng mục đích sử dụng.
- Cuối năm tài chính, các đơn vị sử dụng Quỹ phải thực hiện báo cáo quyết toán số liệu thu, chi thực tế gửi cơ quan quản lý Quỹ và cơ quan tài chính đồng cấp để thẩm định và phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch số 96/2005/TTLT-BTC-BCA có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây của các Bộ, ngành trái với nội dung tại Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, các cơ quan, đơn vị và địa phương có trách nhiệm kịp thời phản ánh về Bộ Tài chính và Bộ Công an để xem xét, hướng dẫn bổ sung.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH-BỘ CÔNG AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 96/2005/TTLT-BTC-BCA | Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 2005 |
Căn cứ Quyết định số 114/2004/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2004 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 31/2000/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ phòng chống ma tuý;
Căn cứ Nghị định số 103/2002/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan tham gia phòng, chống ma túy bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản; Nghị định số 04/2003/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2003 của Chính phủ quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong phòng, chống ma túy;
Bộ Tài chính, Bộ Công an hướng dẫn việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư Liên tịch số 05/2001/TTLT-BTC-BCA ngày 16 tháng 01 năm 2001 cuả Bộ Tài chính, Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Quyết định số 31/2000/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ phòng chống ma tuý (sau đây gọi tắt là Thông tư số 05) như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung điểm 2.1, 2.2, khoản 2, mục A, Phần II, Thông tư số 05 như sau:
“ 2.1. Số tiền thu được từ các vụ án về ma túy do Tòa án nhân dân các cấp xét xử. Khi Bản án, Quyết định xử lý có hiệu lực pháp luật được phân chia như sau:
a) Trích 30% để hỗ trợ, khen thưởng các đơn vị, cá nhân trực tiếp phát hiện, điều tra vụ án;
b) Trích 60%, chuyển vào Tài khoản Quỹ phòng, chống ma túy tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án nhân dân đã xét xử vụ án;
c) Trích 10%, chuyển vào Tài khoản Quỹ phòng, chống ma túy trung ương.”;
2.Sửa đổi, bổ sung khoản 1, 2, mục B, Phần II Thông tư số 05 như sau:
“ 1. Chi hỗ trợ, thưởng cho các đơn vị, cá nhân trực tiếp phát hiện, điều tra vụ án:
Số tiền 30% để hỗ trợ, thưởng cho các đơn vị, cá nhân trực tiếp phát hiện, điều tra vụ án về ma tuý quy định tại điểm 2.1, khoản 2, phần A nói trên coi như 100% và được phân bổ, sử dụng như sau:
a) Trích 60% để khen thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích, trực tiếp phát hiện, điều tra vụ án .
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định mức thưởng cụ thể cho tổ chức, cá nhân có thành tích trong phạm vi nguồn tiền thưởng được trích. Mức thưởng tối đa đối với cá nhân là: 1.000.000 (một triệu) đồng/vụ và đối với tập thể là: 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng/vụ.
Trên cơ sở quy định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan điều tra khám phá, thụ lý chính của vụ án chủ trì, phối hợp với cơ quan phát hiện đầu mối vụ án xem xét việc phân phối tiền thưởng được trích cho các đơn vị, cá nhân có thành tích một cách công khai, dân chủ, công bằng tuỳ thuộc vào tính chất phức tạp của vụ án, số lượng người, đơn vị tham gia và thời gian điều tra vụ án.
Nếu số tiền thưởng chi theo mức do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định nói trên mà còn thừa thì Thủ trưởng đơn vị điều tra khám phá, thụ lý chính của vụ án được chuyển số tiền đó tăng cường cho việc mua sắm tài sản, trang, thiết bị phục vụ trực tiếp cho công tác đấu tranh phòng, chống ma tuý.
b) Trích 40% để mua sắm trang, thiết bị, phương tiện thiết yếu phục vụ trực tiếp cho công tác đấu tranh phòng, chống ma tuý của đơn vị điều tra khám phá, thụ lý chính của vụ án;
Việc mua sắm trang, thiết bị, phương tiện thiết yếu phục vụ trực tiếp cho công tác đấu tranh phòng, chống ma tuý của đơn vị thực hiện theo đúng các chế độ, quy định hiện hành.
2. Quỹ phòng chống ma tuý ở địa phương đựơc sử dụng như sau:
a) Hỗ trợ cho các đơn vị trực tiếp đấu tranh phòng, chống ma tuý mua sắm trang, thiết bị, phương tiện phục vụ trực tiếp cho công tác đấu tranh phòng, chống ma tuý;
b) Hỗ trợ một phần chi đền bù trợ cấp, thiệt hại theo Quyết định của những người có thẩm quyền từ cấp tỉnh trở xuống tại địa phương đối với các cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức; kể cả cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (trừ trường hợp Điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng theo Điều ước quốc tế đó) khi tham gia phòng, chống ma túy mà bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, quy định tại Nghị định số 103/2002/NĐ-CP ngày 17/12/2002 của Chính phủ quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan tham gia phòng, chống ma túy bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản;
c) Hỗ trợ một phần chi khen thưởng theo quyết định của những người có thẩm quyền cho các đơn vị, cá nhân có thành tích suất sắc trong công tác phòng, chống ma tuý theo quy định tại Nghị định số 04/2003/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2003 của Chính phủ Quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong phòng, chống ma túy;
d) Đối với các đơn vị điều tra, khám phá, thụ lý các vụ án lớn, nghiêm trọng, tốn nhiều thời gian, công sức, nhưng không thu được tang vật, tài sản, tiền bạc thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tính chất của từng vụ án để quyết định thưởng cho đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc phát hiện, điều tra, khám phá thụ lý vụ án. Mức thưởng tối đa không vượt quá 1.000.000 (một triệu) đồng /người/vụ đối với cá nhân và 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng/vụ đối với tập thể;
đ) Hỗ trợ công tác xoá bỏ và thay thế cây có chất ma túy; tổ chức cai nghiện ma túy; tuyên truyền phòng, chống ma tuý và các hoạt động khác về phòng, chống ma túy. Mức hỗ trợ do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu tài chính hiện hành, tính chất công việc và khả năng của Quỹ phòng, chống ma túy để quyết định.
e) Hỗ trợ công tác tuyên truyền và các hoạt động khác về phòng, chống ma túy trên địa bàn tỉnh.
Trường hợp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có nguồn để thành lập quỹ phòng, chống ma túy theo Quyết định số 31/2000/QĐ-TTg ngày 2/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ, hoặc Quỹ phòng, chống ma tuý của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không đủ để chi trả cho các nội dung chi nói trên thì Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan và cân đối nguồn ngân sách địa phương trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chi trả;
3. Quỹ phòng chống ma tuý ở trung ương được sử dụng như sau:
a) Hỗ trợ những công việc đột xuất, cấp bách về phòng, chống ma túy có liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban quốc gia phòng, chống HIV-AID, phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm (gồm: hỗ trợ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử những vụ án điểm, đặc biệt nghiêm trọng; những chiến dịch tuyên truyền, truy quét tội phạm, truy quét tệ nạn về ma túy; xóa bỏ việc tái trồng cây có chất ma túy có liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương);
b) Chi đền bù, trợ cấp thiệt hại theo Quyết định của những người có thẩm quyền thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính cho các đối tượng tham gia phòng, chống ma túy bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, quy định tại Nghị định số 103/2002/NĐ-CP ngày 17/12/2002 của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Nghị định này;
c) Chi khen thưởng theo Nghị định 04/2003/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2003 của Chính phủ quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong phòng, chống ma túy;
d) Chi khác;
Trường hợp trong năm nguồn Quỹ phòng, chống ma túy ở trung ương không đủ để chi trả cho các nội dung chi nói trên, thì cơ quan, đơn vị quyết định nhiệm vụ chi phải căn cứ vào chế độ và dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao để đảm bảo.”
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính, Bộ Công an để nghiên cứu, giải quyết kịp thời./.
| KT.BỘ TRƯỞNG | KT.BỘ TRƯỞNG |
Nơi nhận:
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Toà án nhân dân tối cao;
- Các thành viên UBQG phòng, chống HIV-AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Công an, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương;
- Công báo;
- Cục Kiểm tra văn bản Bộ Tư pháp;
- Lưu:: + Bộ Tài chính ( VT, VI, NSNN, PC, HCSN );
+ Bộ Công an ( V11,V22,VPTTPCMT ).
- 1Thông tư liên bộ 97/1999/TTLB-BTC-BCA hướng dẫn nội dung chi và quản lý kinh phí chương trình hành động phòng, chống ma tuý năm 1998-2000 do Bộ Tài chính - Bộ Công an ban hành
- 2Thông tư liên tịch 144/2009/TTLT-BTC-BCA hướng dẫn Quyết định 110/2008/QĐ-TTg về quản lý và sử dụng quỹ phòng chống ma tuý do Bộ Tài chính - Bộ Công an ban hành
- 1Quyết định 114/2004/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định 31/2000/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ phòng, chống ma tuý do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư liên bộ 97/1999/TTLB-BTC-BCA hướng dẫn nội dung chi và quản lý kinh phí chương trình hành động phòng, chống ma tuý năm 1998-2000 do Bộ Tài chính - Bộ Công an ban hành
- 3Quyết định 31/2000/QĐ-TTg thành lập Quỹ phòng, chống ma tuý do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Nghị định 103/2002/NĐ-CP quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản
- 5Nghị định 04/2003/NĐ-CP quy định về khen thưởng đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong phòng, chống ma tuý
Thông tư liên tịch 96/2005/TTLT-BTC-BCA sửa đổi Thông tư Liên tịch 05/2001/TTLT-BTC-BCA hướng dẫn Quyết định 31/2000/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ phòng chống ma tuý do Bộ Tài chính - Bộ Công an cùng ban hành
- Số hiệu: 96/2005/TTLT-BTC-BCA
- Loại văn bản: Thông tư liên tịch
- Ngày ban hành: 02/11/2005
- Nơi ban hành: Bộ Công An, Bộ Tài chính
- Người ký: Lê Thế Tiệm, Trần Văn Tá
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 15 đến số 16
- Ngày hiệu lực: 29/11/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
