Nghị định 103/2002/NĐ-CP quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản do Chính phủ ban hành nhằm thiết lập cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp và hỗ trợ tài chính kịp thời cho các đối tượng bị thiệt hại trong công tác đấu tranh phòng, chống ma túy.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này điều chỉnh việc đền bù thiệt hại về tài sản đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức; đồng thời quy định chế độ trợ cấp đối với cá nhân bị thiệt hại về tính mạng, bị thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe do tham gia phòng, chống ma túy.
Đối tượng áp dụng bao gồm:
- Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong nước bị thiệt hại do tham gia phòng, chống ma túy.
- Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế bị thiệt hại về tài sản; người nước ngoài bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe do tham gia phòng, chống ma túy trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng theo điều ước quốc tế đó.
Nguyên tắc đền bù và trợ cấp thiệt hại
- Chế độ trợ cấp: Được Nhà nước thực hiện đối với các thiệt hại về tính mạng và sức khỏe của người bị thiệt hại do tham gia phòng, chống ma túy.
- Chế độ đền bù: Áp dụng đối với thiệt hại về tài sản không phải do người phạm tội về ma túy trực tiếp gây ra. Nếu thiệt hại tài sản do người phạm tội về ma túy trực tiếp gây ra thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Quyền yêu cầu: Đối tượng bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đền bù tài sản hoặc thực hiện chế độ trợ cấp. Việc đền bù hoặc trợ cấp phải được quyết định bằng văn bản.
Quy định về đền bù thiệt hại tài sản
Thiệt hại tài sản được đền bù bao gồm tài sản bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng và các chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại. Giá trị tài sản được xác định theo giá thị trường tại địa phương vào thời điểm xảy ra thiệt hại, có tính khấu hao. Tài sản có khả năng phục hồi thì phục hồi nguyên trạng, nếu không phục hồi được hoặc bị mất thì được đền bù bằng tiền.
Trách nhiệm giải quyết đền bù tài sản được phân chia như sau:
- Cơ quan điều tra, cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc ngành Công an, đơn vị Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan giải quyết đền bù đối với thiệt hại trong các vụ án do mình thụ lý. Trường hợp cơ quan khác phát hiện, bắt giữ thì phải chuyển giao tài liệu liên quan cho cơ quan thụ lý điều tra để giải quyết.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh giải quyết đền bù đối với các trường hợp thiệt hại ngoài phạm vi thụ lý vụ án nêu trên xảy ra tại địa phương.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đơn đề nghị hợp lệ, cơ quan có trách nhiệm phải xem xét, quyết định đền bù hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định.
- Hội đồng tư vấn xét giải quyết đền bù thiệt hại có thể được thành lập trong trường hợp cần thiết để xem xét, kiểm tra, đánh giá thiệt hại và kiến nghị mức đền bù.
Thẩm quyền quyết định đền bù thiệt hại tài sản
Thẩm quyền quyết định đền bù được phân cấp cụ thể theo giá trị tài sản bị thiệt hại:
- Dưới 2.000.000 đồng: Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan Điều tra hình sự ở Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh quyết định đối với vụ án do đơn vị mình thụ lý.
- Dưới 5.000.000 đồng: Thủ trưởng cơ quan điều tra thuộc Công an từ cấp tỉnh trở lên, Thủ trưởng cơ quan Điều tra hình sự ở Tổng cục và cấp tương đương trong Quân đội, Thủ trưởng cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy Bộ Công an quyết định đối với vụ án do đơn vị mình thụ lý.
- Dưới 10.000.000 đồng: Giám đốc Công an cấp tỉnh, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Thủ trưởng cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Hải quan cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh và tương đương quyết định đối với vụ án thuộc quyền thụ lý. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đối với các vụ việc khác xảy ra tại địa phương.
- Từ 10.000.000 đồng trở lên: Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định đối với các vụ án thuộc quyền thụ lý của các cơ quan thuộc quyền. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với các vụ việc khác xảy ra tại địa phương.
Chế độ trợ cấp thiệt hại về sức khỏe và tính mạng
Chế độ trợ cấp được thực hiện một lần bằng tiền với các định mức và điều kiện cụ thể:
- Thiệt hại về sức khỏe (bị thương tích, tổn hại sức khỏe): Trợ cấp bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, chức năng bị suy giảm và thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút (nếu thu nhập không ổn định thì tính theo mức trung bình của lao động cùng loại). Mức trợ cấp tối đa không quá 20.000.000 đồng/người. Trường hợp trợ cấp từ 10.000.000 đồng trở lên phải lập Hội đồng tư vấn để xét duyệt.
- Thiệt hại về tính mạng: Trợ cấp bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc trước khi chết và chi phí mai táng. Mức trợ cấp một lần cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp tối đa không quá 50.000.000 đồng/người chết.
Thẩm quyền và thủ tục giải quyết trợ cấp sức khỏe, tính mạng
Thẩm quyền quyết định trợ cấp được phân định như sau:
- Dưới 10.000.000 đồng: Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
- Từ 10.000.000 đồng trở lên: Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định.
Về thủ tục, người đề nghị gửi đơn kèm theo các chứng từ, hóa đơn chi phí thực tế, giấy chứng tử (nếu có) đến cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội nơi thụ lý vụ án. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết hoặc khi cần thiết, Thủ trưởng cơ quan giải quyết trợ cấp sẽ thành lập Hội đồng tư vấn để đánh giá mức độ tổn hại dựa trên kết luận giám định pháp y, giám định thương tật và kiến nghị mức trợ cấp phù hợp.
Nguồn kinh phí và hiệu lực thi hành
Kinh phí đền bù và trợ cấp được trích một phần từ Quỹ phòng, chống ma tuý, phần còn lại do ngân sách nhà nước các cấp bảo đảm. Các cơ quan có trách nhiệm lập dự toán kinh phí gửi cơ quan Tài chính cùng cấp để tổng hợp trình cấp có thẩm quyền quyết định. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện.
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Bộ Công an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 103/2002/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2002 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Điều 14 Luật Phòng, chống ma tuý ngày 09 tháng 12 năm 2000;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
2. Việc đền bù thiệt hại được Nhà nước thực hiện theo quy định của Nghị định này là đền bù thiệt hại về tài sản đối với đối tượng bị thiệt hại không phải do người phạm tội về ma tuý trực tiếp gây ra; trường hợp thiệt hại về tài sản do người phạm tội về ma tuý gây ra thì được giải quyết theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Nhà nước có trách nhiệm xem xét, giải quyết việc đền bù thiệt hại về tài sản cho đối tượng bị thiệt hại và thực hiện chế độ trợ cấp đối với người bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ theo quy định của pháp luật có liên quan và quy định của Nghị định này. Việc thực hiện đền bù hoặc trợ cấp phải quyết định bằng văn bản.
2. Giá trị tài sản bị thiệt hại được xác định theo giá thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị thiệt hại, kể cả tính khấu hao tài sản.
3. Nếu tài sản bị thiệt hại có khả năng phục hồi nguyên trạng thì được phục hồi nguyên trạng. Nếu tài sản bị mất hoặc không phục hồi được nguyên trạng thì được đền bù.
2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện), Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh) có trách nhiệm giải quyết đền bù thiệt hại ngoài những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này xảy ra tại địa phương mình.
3. Đối tượng bị thiệt hại có thể gửi đơn đến cơ quan điều tra, cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý nơi thụ lý vụ án, Uỷ ban nhân dân nơi xảy ra thiệt hại để đề nghị được đền bù thiệt hại. Đơn đề nghị cần trình bày rõ nội dung sự việc đã gây ra thiệt hại, những tài sản bị thiệt hại, giá trị thiệt hại và mức đền bù, những tài liệu chứng minh giá trị tài sản, giá trị thiệt hại... để làm căn cứ giúp cơ quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết.
4. Khi nhận được đơn đề nghị đền bù của đối tượng bị thiệt hại, trong thời hạn chậm nhất 15 ngày, cơ quan điều tra, cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý nơi thụ lý vụ án, ủy ban nhân dân nơi xảy ra thiệt hại có trách nhiệm xem xét, quyết định việc đền bù hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định việc đền bù theo quy định tại
5. Trong trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm đền bù có thể thành lập Hội đồng tư vấn xét giải quyết việc đền bù thiệt hại. Hội đồng tư vấn bao gồm: Đại diện cơ quan có trách nhiệm đền bù làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính - vật giá, đại diện cơ quan chuyên ngành khoa học - kỹ thuật có liên quan. Người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ được mời tham dự cuộc họp của Hội đồng để phát biểu ý kiến; ý kiến của những người này được ghi vào biên bản.
Hội đồng tư vấn xét giải quyết việc đền bù thiệt hại có nhiệm vụ xem xét, kiểm tra, đánh giá thiệt hại và kiến nghị mức đền bù thiệt hại. Hội đồng tư vấn thảo luận và kết luận theo đa số; biên bản họp hội đồng tư vấn được chuyển đến người có thẩm quyền quy định tại
2. Thủ trưởng cơ quan điều tra thuộc Công an từ cấp tỉnh trở lên, Thủ trưởng cơ quan Điều tra hình sự ở Tổng cục và cấp tương đương trong Quân đội, Thủ trưởng cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý Bộ Công an quyết định đền bù thiệt hại về tài sản có giá trị đến dưới 5.000.000 (năm triệu) đồng đối với các vụ án do đơn vị mình thụ lý.
3. Giám đốc Công an cấp tỉnh, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Thủ trưởng cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Hải quan cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh và tương đương quyết định đền bù thiệt hại về tài sản có giá trị đến dưới 10.000.000 (mười triệu) đồng đối với các vụ án do cơ quan điều tra, cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý hoặc đơn vị Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan thuộc quyền thụ lý.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định đền bù thiệt hại về tài sản có giá trị đến dưới mười triệu đồng đối với các vụ việc khác về ma tuý xảy ra tại địa phương mình.
5. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định đền bù thiệt hại về tài sản có giá trị từ 10.000.000 (mười triệu) đồng trở lên đối với các vụ án do cơ quan điều tra, cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý hoặc đơn vị Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan thuộc quyền thụ lý.
6. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đền bù thiệt hại về tài sản có giá trị từ 10.000.000 (mười triệu) đồng trở lên đối với các vụ việc khác về ma tuý xảy ra tại địa phương mình.
CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI VỀ TÍNH MẠNG, SỨC KHOẺ
1. Thiệt hại do bị thương tích, tổn hại về sức khoẻ bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
1. Thiệt hại về tính mạng bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết.
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng.
2. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định trợ cấp những thiệt hại từ 10.000.000 (mười triệu) đồng trở lên.
2. Khi nhận được đơn đề nghị trợ cấp của người bị thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm giải quyết trợ cấp phải xem xét, quyết định trợ cấp kịp thời theo quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật có liên quan.
4. Hội đồng tư vấn xét giải quyết trợ cấp có nhiệm vụ đánh giá mức độ tổn hại về sức khoẻ, tính mạng trên cơ sở căn cứ vào kết luận giám định pháp y, kết luận giám định pháp y tâm thần, kết luận giám định thương tật, các giấy tờ, tài liệu có liên quan và quy định của cơ quan có thẩm quyền về tiêu chuẩn thương tật để đánh giá thiệt hại và kiến nghị mức trợ cấp. Hội đồng tư vấn thảo luận và kết luận theo đa số; biên bản họp Hội đồng tư vấn được chuyển đến người có thẩm quyền quy định tại
KINH PHÍ ĐỀN BÙ, TRỢ CẤP THIỆT HẠI
2. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan thực hiện quy định này.
Điều 14. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
Bộ Công an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT-BCA-BTC-BLĐTBXH-BQP hướng dẫn Nghị định 103/2002/NĐ-CP quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản do Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng ban hành
- 2Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 3Bộ Luật Hình sự 1999
- 4Luật Phòng, chống ma túy 2000
- 5Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 6Quyết định 49/2005/QĐ-TTg phê duyệt "Kế hoạch tổng thể phòng, chống ma tuý đến năm 2010" do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định 103/2002/NĐ-CP quy định chế độ đền bù và trợ cấp đối với cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma tuý bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản
- Số hiệu: 103/2002/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 17/12/2002
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 01/01/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
