Ngày 08 tháng 06 năm 2011, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 78/2011/TT-BTC hướng dẫn việc không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đối với khoản hỗ trợ khám chữa bệnh hiểm nghèo cho người lao động và thân nhân của người lao động từ nguồn thu nhập sau thuế thu nhập doanh nghiệp, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng của doanh nghiệp.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này quy định chính sách ưu đãi thuế thu nhập cá nhân đối với khoản hỗ trợ điều trị bệnh hiểm nghèo. Theo đó, khoản tiền hỗ trợ khám chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của họ sẽ không bị tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công. Nguồn kinh phí để thực hiện hỗ trợ này được lấy từ thu nhập sau thuế thu nhập doanh nghiệp, quỹ phúc lợi hoặc quỹ khen thưởng của các đơn vị sử dụng lao động.
Các doanh nghiệp được phép chi hỗ trợ
Các tổ chức, đơn vị được phép sử dụng nguồn tài chính hợp pháp của mình để chi hỗ trợ cho người lao động và thân nhân mắc bệnh hiểm nghèo bao gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật nước ngoài (doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
- Các tổ chức được thành lập, hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập có thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
- Các tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát sinh thu nhập chịu thuế.
Đối tượng được nhận khoản hỗ trợ
Chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản hỗ trợ này áp dụng cho các đối tượng cụ thể bị mắc bệnh hiểm nghèo bao gồm:
- Người lao động đang làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp, tổ chức.
- Thân nhân của người lao động, bao gồm: bố đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con đẻ và con nuôi hợp pháp của người lao động.
Căn cứ xác định và mức hỗ trợ khám chữa bệnh
Việc thực hiện chi hỗ trợ và xác định mức hỗ trợ được quy định cụ thể như sau:
- Mức hỗ trợ có thể là một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh thực tế của người lao động và thân nhân. Tuy nhiên, mức hỗ trợ tối đa không được vượt quá số tiền viện phí thực tế mà người bệnh phải chi trả sau khi đã trừ đi phần được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán.
- Doanh nghiệp thực hiện chi tiền hỗ trợ có trách nhiệm lưu giữ đầy đủ hồ sơ chứng từ hợp lệ. Hồ sơ bao gồm bản sao chứng từ trả tiền viện phí có xác nhận của doanh nghiệp (áp dụng trong trường hợp người bệnh tự thanh toán phần còn lại sau khi tổ chức bảo hiểm y tế đã chi trả trực tiếp cho cơ sở khám chữa bệnh) hoặc bản sao chứng từ trả viện phí kèm bản sao chứng từ chi của cơ quan bảo hiểm y tế có xác nhận của doanh nghiệp (áp dụng trong trường hợp người bệnh tự chi trả toàn bộ viện phí trước, sau đó nhận lại tiền bảo hiểm từ cơ quan bảo hiểm y tế). Các chứng từ này phải được lưu trữ cùng với chứng từ chi tiền hỗ trợ của doanh nghiệp.
Hiệu lực thi hành
Thông tư số 78/2011/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày 08 tháng 06 năm 2011. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, các tổ chức và cá nhân có liên quan cần kịp thời phản ánh về Bộ Tài chính để được hướng dẫn và giải quyết cụ thể.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 78/2011/TT-BTC | Hà Nội, ngày 08 tháng 6 năm 2011 |
Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 1485/VPCP- KTTH ngày 14 tháng 3 năm 2011 của Văn phòng Chính phủ về việc không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của người lao động đối với khoản hỗ trợ của doanh nghiệp cho người lao động và thân nhân người lao động khám chữa bệnh hiểm nghèo.
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau:
Thông tư này quy định không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ tiền lương, tiền công của người lao động khoản hỗ trợ khám chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động từ nguồn thu nhập sau thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), từ nguồn quỹ phúc lợi, khen thưởng của doanh nghiệp.
Điều 2. Doanh nghiệp được lấy từ nguồn thu nhập sau thuế TNDN; từ nguồn quỹ phúc lợi, khen thưởng để hỗ trợ cho người lao động và thân nhân người lao động mắc bệnh hiểm nghèo gồm:
1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
2. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;
3. Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã;
4. Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
5. Tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
Điều 3. Đối tượng được hưởng khoản hỗ trợ:
Đối tượng được hưởng khoản hỗ trợ của doanh nghiệp là người bị mắc bệnh hiểm nghèo bao gồm:
1. Người lao động làm việc tại doanh nghiệp.
2. Thân nhân người lao động: Bố, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp.
Điều 4. Căn cứ để hỗ trợ và mức hỗ trợ khám chữa bệnh:
1. Mức hỗ trợ có thể là một phần hoặc toàn bộ số tiền khám chữa bệnh cho người lao động và thân nhân người lao động nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá số tiền trả viện phí của người lao động và thân nhân người lao động sau khi đã trừ số tiền chi trả của cơ quan bảo hiểm y tế.
2. Doanh nghiệp chi tiền hỗ trợ có trách nhiệm: lưu giữ bản sao chứng từ trả tiền viện phí có xác nhận của doanh nghiệp (trong trường hợp người lao động và thân nhân người lao động trả phần còn lại sau khi tổ chức bảo hiểm y tế trả trực tiếp với cơ sở khám chữa bệnh) hoặc bản sao chứng từ trả viện phí; bản sao chứng từ chi bảo hiểm y tế có xác nhận của doanh nghiệp (trong trường hợp người lao động và thân nhân người lao động trả toàn bộ viện phí, cơ quan bảo hiểm y tế trả tiền bảo hiểm y tế cho người lao động và thân nhân người lao động) cùng với chứng từ chi tiền hỗ trợ cho người lao động và thân nhân người lao động mắc bệnh hiểm nghèo.
1.Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày 08 tháng 06 năm 2011.
2.Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Tài chính để được hướng dẫn cụ thể./.
| Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2Quyết định 272/QĐ-BTC năm 2014 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính ban hành hoặc liên tịch với các Bộ, ngành ban hành hết hiệu lực
- 3Công văn 2858/TCT-TNCN năm 2015 về khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật Hợp tác xã 2003
- 2Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007
- 3Nghị định 100/2008/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân
- 4Nghị định 118/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
- 5Công văn 1485/VPCP-KTTH không tính vào thu nhập chịu thuế đối với khoản hỗ trợ khám, chữa bệnh hiểm nghèo do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 6Công văn 2858/TCT-TNCN năm 2015 về khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động do Tổng cục Thuế ban hành
Thông tư 78/2011/TT-BTC hướng dẫn không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đối với khoản hỗ trợ khám chữa bệnh hiểm nghèo cho người lao động và thân nhân của người lao động từ nguồn thu nhập sau thuế thu nhập doanh nghiệp; quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng của doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 78/2011/TT-BTC
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 08/06/2011
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Đỗ Hoàng Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 379 đến số 380
- Ngày hiệu lực: 23/07/2011
- Ngày hết hiệu lực: 01/10/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
