Thông tư 622-TTg được ban hành năm 1955 do Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm thiết lập và tăng cường công tác quản lý tiền mặt trong hệ thống cơ quan nhà nước và nền kinh tế quốc dân, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ và thúc đẩy công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh.
Văn bản áp dụng đối với tất cả các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị quân đội, xí nghiệp quốc doanh, các tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã và các đoàn thể nhân dân có sử dụng ngân sách hoặc hoạt động tài chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Nguyên tắc tập trung quản lý tiền mặt tại Ngân hàng Quốc gia- Tất cả các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp và tổ chức thuộc đối tượng áp dụng có nghĩa vụ gửi toàn bộ các khoản thu bằng tiền mặt hoặc lượng tiền mặt nhàn rỗi vào tài khoản mở tại Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.
- Nghiêm cấm các đơn vị tự ý giữ lại tiền mặt ngoài quỹ trái quy định, hoặc tự ý chi tiêu trực tiếp từ các nguồn thu bằng tiền mặt mà không thông qua sự kiểm soát và hạch toán của ngân hàng.
- Các cơ quan, tổ chức chỉ được phép lưu giữ một lượng tiền mặt tối thiểu tại quỹ (gọi là hạn mức tồn quỹ) để chi dùng cho các khoản chi tiêu nhỏ, lẻ hàng ngày theo định mức cụ thể đã được Ngân hàng Quốc gia phê duyệt.
- Mọi khoản tiền mặt vượt quá hạn mức tồn quỹ quy định phải được nộp ngay vào tài khoản ngân hàng trong ngày hoặc theo thời hạn cụ thể được quy định cho từng địa bàn hoạt động.
- Các giao dịch thanh toán, mua bán vật tư, cung ứng dịch vụ giữa các cơ quan nhà nước, xí nghiệp quốc doanh và các tổ chức kinh tế bắt buộc phải thực hiện bằng phương thức chuyển khoản thông qua Ngân hàng Quốc gia.
- Hạn chế tối đa việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch có giá trị lớn nhằm giảm thiểu lượng tiền mặt lưu thông ngoài thị trường tự do, hỗ trợ Nhà nước kiểm soát lạm phát và quản lý hiệu quả nguồn vốn công.
- Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được giao quyền hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc chấp hành kỷ luật quản lý tiền mặt đối với tất cả các đơn vị, tổ chức.
- Các trường hợp vi phạm quy định về hạn mức tồn quỹ, chi tiêu tiền mặt sai mục đích hoặc cố tình né tránh việc thanh toán qua ngân hàng sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo các quy định pháp luật hiện hành.
Thông tư 622-TTg năm 1955 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành, đặt nền móng pháp lý quan trọng cho việc xây dựng kỷ luật tài chính và quản lý tiền tệ tập trung của Nhà nước trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển đất nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 622-TTg | Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 1955 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
| Kính gửi: | Các Bộ và các Đoàn thể ở Trung ương; |
Để tập trung tiền mặt vào Ngân hàng, giúp Ngân hàng dùng tiền ấy vào sản xuất, để điều tiết việc lưu hành tiền mặt, tránh phát hành để chi tiêu tài chính, tiến tới ổn định vật giá và củng cố giá trị tiền tệ ngày 01/5/1952, Thủ tướng Chính phủ đã ra nghị định số 169-TTg quy định việc quản lý tiền mặt đối với các cơ quan và doanh nghiệp quốc gia.
Đến nay, nói chung, công việc quản lý tiền mặt đã thu được một số kết quả. Một số cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội và xí nghiệp quốc doanh đã chấp hành tương đối nghiêm chỉnh những nguyên tắc quy định trong nghị định số 169-TTg ngày 01/5/1952. Nhưng còn một số cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội, xí nghiệp quốc doanh chưa thi hành đầy đủ, nhất là trong việc mở tài khoản, tập trung tiền mặt vào Ngân hàng và thanh toán bằng chuyển khoản v.v…
Về phần Ngân hàng, tuy có cố gắng cải tiến lề lối làm việc, nhưng nói chung vẫn còn chậm chạp, chưa đơn giản và hợp lý hóa thủ tục giấy tờ đúng mức.
Tình trạng trên đã hạn chế tác dụng và kết quả của công tác quản lý tiền mặt.
Trước nhiệm vụ phục hồi kinh tế, cần quản lý tiền mặt chặt chẽ và chu đáo hơn trước. Hiện nay, ta có điều kiện thuận lợi để làm việc đó vì phần lớn các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội, xí nghiệp quốc doanh ở gần Ngân hàng và việc giao thông liên lạc dễ dàng, nhanh chóng hơn trước.
Nhận được thông tư này, các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội và xí nghiệp quốc doanh cần kiểm điểm việc chấp hành nghị định quản lý tiền mặt. Đồng thời, cần đặt kế hoạch thực hiện triệt để những điểm sau đây:
Các Bộ, các cơ quan, đoàn thể và xí nghiệp quốc doanh ở Trung ương có đơn vị trực thuộc ở địa phương (cửa hàng mậu dịch, công trường, bệnh viện, trường học, v.v…) không được rút tiền mặt ở Ngân hàng trung ương, trực tiếp giao cho các đơn vị trực thuộc giữ để tiêu dần, mà phải mở tài khoản tiền gửi cho các đơn vị đó tại Ngân hàng địa phương, trừ trường hợp đặc biệt phải được Ngân hàng trung ương đồng ý.
Các xí nghiệp quốc doanh có thu nhập tiền mặt hàng ngày (Mậu dịch quốc doanh, Hỏa xa, Bưu điện, v.v…) mỗi buổi sáng, phải tập trung số thu nhập trong ngày hôm trước đem nộp cho Ngân hàng nơi gần nhất. Nếu không nộp được hàng ngày thì phải có lý do chính đáng và phải thương lượng với Ngân hàng để quy định thời hạn nộp.
Các đơn vị có tài khoản ở Ngân hàng cần chi tiêu đến đâu thì rút tiền mặt ra đến đấy, chứ không được rút nhiều một lần để giữ lại chi tiều dần.
Các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội, xí nghiệp quốc doanh nói chung đều phải mua hàng của Mậu dịch quốc doanh và thanh toán bằng chuyển khoản qua Ngân hàng. Trường hợp cần mua hàng ở ngoài Mậu dịch quốc doanh thì phải nói rõ lý do trong quyết toán gửi ở cơ quan Tài chính. Cơ quan Tài chính sẽ không thanh toán nếu không có lý do chính đáng.
Đối với tư nhân, khi cần trả tiền mua những món hàng lớn hay cần ứng trước những món tiền lớn để đặt hàng, các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội và xí nghiệp quốc doanh không trả thẳng cho họ bằng tiền mặt, mà trả bằng séc để họ đến Ngân hàng lĩnh tiền mặt hoặc ghi vào tài khoản tiền gửi của họ ở Ngân hàng.
- Trả lương và phụ cấp cho công nhân viên và sinh hoạt phí cho bộ đội;
- Trả tiền mua hàng ở những nơi không tiện thanh toán qua Ngân hàng (thí dụ mua sản phẩm của nông dân, của thợ thủ công của những người buôn nhỏ, v.v…);
- Chi tiêu lặt vặt.
Để thi hành những điểm trên, Ngân hàng phải kiện toàn bộ máy, cải tiến nghiệp vụ, đơn giản thủ tục giấy tờ và nâng cao ý thức phục vụ của cán bộ, công nhân viên hơn nữa, đồng thời cần giúp đỡ, kiểm tra các ngành thi hành nghiêm chỉnh chế độ, quản lý tiền mặt.
Mậu dịch quốc doanh cần cố gắng chuẩn bị đầy đủ hàng để cung cấp cho các ngành, cơ quan, cán bộ; cần chú trọng đảm bảo chất lượng hàng hóa và điều chỉnh giá cả cho hợp lý.
Bộ Thương nghiệp và Ngân hàng trung ương cần phối hợp nghiên cứu để quy định những biện pháp quản lý tiền mặt thích hợp đối với Mậu dịch quốc doanh.
Thi hành những nguyên tắc quy định trong nghị định Thủ tướng Phủ số 169-TTg ngày 01/5/1952 và trong thông tư này là một kỷ luật tài chính.
Các Bộ, các đoàn thể ở Trung ương, các Ủy ban hành chính địa phương cần phổ biến những điểm quy định trên đây thật rộng rãi để tất cả các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội và xí nghiệp quốc doanh đều thông suốt và chấp hành nghiêm chỉnh.
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Thông tư 622-TTg năm 1955 về việc quản lý tiền mặt do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 622-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 27/11/1955
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 18
- Ngày hiệu lực: 12/12/1955
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
