Thông tư 55P/4 được Bộ Tư pháp ban hành năm 1946 quy định về việc giam cứu, nhằm thiết lập các nguyên tắc và thủ tục pháp lý chặt chẽ đối với việc tạm giam người bị tình nghi hoặc bị can trong quá trình điều tra và xét xử tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan tư pháp, tòa án, cơ quan điều tra, ban quản lý các nhà giam và các đối tượng bị áp dụng biện pháp giam cứu trong giai đoạn đầu của chính quyền cách mạng.
Nguyên tắc cơ bản và mục đích của việc giam cứu- Giam cứu là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, chỉ được áp dụng trong những trường hợp thực sự cần thiết theo quy định của pháp luật để phục vụ công tác điều tra, xét xử hoặc ngăn ngừa người phạm tội bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ.
- Tôn trọng quyền tự do cá nhân và nhân phẩm của người bị giam cứu, tránh việc lạm dụng quyền lực gây oan sai hoặc xâm phạm thô bạo đến quyền lợi hợp pháp của công dân.
- Chỉ những cơ quan và cá nhân có thẩm quyền tư pháp được pháp luật quy định mới có quyền ra lệnh giam cứu.
- Mọi lệnh giam cứu phải được lập bằng văn bản, ghi rõ lý do, căn cứ pháp lý và thời hạn giam giữ cụ thể, không được phép giam giữ người vô thời hạn hoặc không có lệnh hợp pháp.
- Lệnh giam cứu phải được tống đạt và thông báo rõ ràng cho người bị giam giữ biết về lý do họ bị hạn chế quyền tự do.
- Người bị giam cứu phải được bố trí nơi giam giữ bảo đảm các điều kiện tối thiểu về vệ sinh, ánh sáng và sức khỏe.
- Nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, dùng nhục hình, ngược đãi hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm đối với người bị giam cứu dưới mọi hình thức.
- Đảm bảo quyền được tiếp xúc với người bào chữa, luật sư và liên lạc với gia đình theo đúng trình tự, thủ tục quy định để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
- Ban quản lý nhà giam và các cán bộ có liên quan có trách nhiệm theo dõi sát sao thời hạn giam cứu, kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền khi hết thời hạn để giải quyết theo quy định, tránh việc giam giữ quá hạn.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra sai phạm, tiêu cực hoặc vi phạm quyền lợi của người bị giam cứu trong quá trình quản lý.
Thông tư 55P/4 năm 1946 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành, đặt nền móng quan trọng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nhân đạo, dân chủ và tôn trọng quyền con người trong những năm đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 55 P/4 | Hà Nội, ngày 22 tháng 07 năm 1946 |
THÔNG TƯ
Bộ trưởng Bộ Tư pháp gửi ông Chưởng lý tòa Thượng thẩm Hà Nội, Huế, Sài Gòn
Việc giam cứu một công chức cũng như một người thường dân là một việc nên làm nếu:
a) “Cần thiết cho công cuộc điều tra”. Thẩm phán có thể sợ công chức ở ngoài sẽ lợi dụng quyền của mình mà mua chuộc nhân chứng hoặc phá huỷ các vật chứng. Một khi công cuộc điều tra đã đến một mực mà không cần giam cứu nữa, thì nên tạm tha người can phạm (la liberté provisoire doit être la règle et I’incarcération I’ex-ception),
b) Phạm vào một tội nặng (tiểu hình hoặc đại hình) vì nếu tha người phạm pháp ra, e có hại cho trật tự chung (ăn cướp, gián điệp, biển thu to,v.v…). Nhưng nếu xét có thể tha người phạm pháp mà không có hại cho trật tự chung (vô ý giết người, tiêu nhầm một tờ giấy giả) thì không nên giam giữ người ấy.
Quyền của dự thẩm rất to, nhưng trong khi xử dụng quyền đó nên rất thận trọng và bao giờ cũng nghĩ đến sự tự do cá nhân là một quyền phải được tôn trọng trong một nước dân chủ cộng hòa. Khi nào toà đã xử, án thành nhất định, thì bắt giam người phạm pháp cũng không muộn.
Nếu muốn cho chắc chắn, thì dự thẩm có thể tùy theo sự giầu nghèo của người phạm pháp, bắt người ấy phải ký quỹ một số tiền nhiều hoặc ít; số tiền đó sẽ đảm bảo việc người phạm pháp ra hầu toà và việc bắt giam người ấy một khi án thành nhất định.
Bản bộ mong rằng các thẩm phán nên thi hành việc giam giữ công dân với một tinh thần mới.
| TL. BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP |
Thông tư 55P/4 năm 1946 về việc giam cứu do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 55P/4
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 22/07/1946
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Văn Hưởng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 38
- Ngày hiệu lực: 06/08/1946
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
