Thông tư 414-YT-TT được Bộ Y tế ban hành năm 1958 nhằm hướng dẫn chi tiết về việc xây dựng và phát triển hệ thống y tế dân lập cấp xã. Đây là văn bản pháp lý mang tính lịch sử, đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành và phát triển mạng lưới y tế cơ sở tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang thực hiện công cuộc kiến thiết và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng rộng rãi tại các địa phương trên cả nước, đặc biệt tập trung vào khu vực nông thôn, các xã vùng sâu, vùng xa nơi điều kiện y tế còn gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn.
- Đối tượng áp dụng: Ủy ban hành chính các cấp (tỉnh, huyện, xã), các cơ quan quản lý y tế địa phương, cán bộ y tế xã, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân tại các địa phương.
Nguyên tắc cốt lõi trong xây dựng y tế dân lập xã
- Huy động tối đa sức mạnh và sự đóng góp tự nguyện của nhân dân về cả nhân lực, vật lực và tài lực để xây dựng các trạm y tế, phòng phát thuốc tại địa phương.
- Quán triệt phương châm hoạt động: dân bàn, dân đóng góp xây dựng, dân tự quản lý dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ về mặt kỹ thuật, chuyên môn và nghiệp vụ từ cơ quan y tế cấp trên của Nhà nước.
- Đảm bảo tính công bằng, xã hội hóa trong chăm sóc sức khỏe, giúp mọi người dân nông thôn đều có cơ hội tiếp cận nhanh chóng với các dịch vụ y tế cơ bản nhất.
Quy định về tổ chức bộ máy và nhân sự y tế xã
- Thành lập Ban quản lý y tế dân lập xã do đại diện chính quyền địa phương làm trưởng ban, phối hợp với các đoàn thể để điều hành, giám sát hoạt động của trạm y tế.
- Xây dựng đội ngũ nhân sự tại chỗ bao gồm y tá xã, cứu thương và cô đỡ thôn bản. Những cán bộ này phải là người địa phương, có tinh thần trách nhiệm cao và được cử đi đào tạo các lớp chuyên môn ngắn hạn do ngành y tế tổ chức.
- Chế độ đãi ngộ, phụ cấp cho cán bộ y tế xã do nhân dân địa phương tự chi trả thông qua quỹ y tế xã, đóng góp bằng thóc gạo hoặc quy đổi ra công điểm hợp tác xã, đảm bảo cuộc sống ổn định cho cán bộ yên tâm công tác.
Nhiệm vụ chuyên môn và hoạt động của y tế dân lập xã
- Công tác vệ sinh phòng bệnh: Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nếp sống vệ sinh, ăn chín uống sôi, cải tạo giếng nước, nhà tắm, hố xí hợp vệ sinh; chủ động phòng chống các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
- Khám bệnh và điều trị: Thực hiện sơ cứu chấn thương ban đầu, xử lý các bệnh thông thường tại chỗ; kết hợp chặt chẽ giữa y học hiện đại và y học cổ truyền bằng cách sử dụng các nguồn thuốc nam sẵn có tại địa phương.
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản: Đảm bảo công tác đỡ đẻ an toàn, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, giảm thiểu tối đa tỷ lệ tử vong ở sản phụ và trẻ em tại nông thôn.
Cơ chế tài chính và quản lý tài sản
- Nguồn tài chính của y tế dân lập xã được hình thành từ sự đóng góp tự nguyện của người dân, nguồn thu từ việc bán thuốc theo giá gốc (không lấy lãi) và sự hỗ trợ một phần từ ngân sách của Ủy ban hành chính địa phương.
- Toàn bộ các khoản thu, chi và tài sản của trạm y tế xã phải được ghi chép sổ sách rõ ràng, thực hiện công khai, minh bạch trước nhân dân và chịu sự kiểm tra định kỳ của chính quyền cấp xã.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 414-YT-TT năm 1958 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Mặc dù ra đời trong giai đoạn lịch sử trước đây, các nguyên tắc về xã hội hóa y tế và xây dựng y tế cơ sở trong thông tư này vẫn là bài học kinh nghiệm quý báu cho việc hoàn thiện hệ thống y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu hiện nay.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ Y TẾ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 414-YT-TT | Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 1958 |
| Kính gửi: | Ủy ban Hành chính liên khu, và thành phố |
Xét tác dụng của cán bộ y tế xã và nữ hộ sinh xã từ bấy lâu nay trong việc bảo đảm sức khỏe của nhân dân phục vụ sản xuất.
Xét hoàn cảnh hoạt động của cán bộ y tế xã và nữ hộ sinh xã đòi hỏi nhiều hy sinh cố gắng khắc phục nhân dân không kể ngày đêm và xét hoàn cảnh sinh hoạt của anh chị em.
Sau khi được Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính thỏa thuận và Thủ tướng Chính phủ chuẩn y trong cuộc họp ngày 8 tháng 4 năm 1958.
Bộ ra thông tư về việc xây dựng y tế dân lập xã như sau:
I. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA XÂY DỰNG Y TẾ DÂN LẬP XÃ
Đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, sức khỏe của nhân dân cần được khôi phục bảo vệ và phát triển.
Nền Y tế của ta là nền y tế nhân dân, phải vì nhân dân mà phục vụ và phải dựa vào nhân dân. Muốn củng cố và phát tiển công tác y tế nông thôn, cần đặt vấn đề xây dựng y tế dân lập, tạo điều kiện cho việc xây dựng cơ sở y tế và đảm bảo một phần đời sống cho cán bộ Y tế và hộ sinh xã trong khi hoạt động.
II. - THÀNH PHẦN VÀ NHIỆM VỤ BẢN BẢO TRỢ Y TẾ DÂN LẬP XÃ
A. - Thành phần ban Bảo trợ y tế dân lập xã.
Để tiến hành xây dựng y tế dân lập xã, phải tổ chức ban Bảo trợ y tế dân lập xã. Ban này gồm từ ba đến năm người trong nhân dân mà phải là những người có tinh thần phục vụ, có tín nhiệm với nhân dân, được Ủy ban Hành chính và các đoàn thể ở xã công nhận.
Những ủy viên trong ban này không thoát ly sản xuất, công việc làm cũng ít hơn cán bộ xã nên không hưởng thù lao và cũng không gọi là cán bộ xã; những người nào có thành tích trong công tác sẽ được xét và đề nghị khen thưởng.
Cán bộ y tế và hộ sinh xã đã được chính thức công nhận cũng tham gia hoạt động trong ban này song chỉ là ban viên. Còn trưởng ban là thủ quỹ do ban Bảo trợ y tế dân lập cử ra nhưng phải là nhân dân.
B. - Nhiệm vụ của ban Bảo trợ y tế dân lập xã là:
- Giúp đỡ và tạo điều kiện cho cán bộ y tế và hộ sinh dân lập xã hoạt động.
- Vận động nhân dân tham gia các công tác xã hội trong xã.
Ban này có tính chất là tổ chức quần chúng nhân dân, chứ không thuộc hệ thống tổ chức của chính quyền, nhưng ban đó phải chịu sự lãnh đạo của Ủy ban Hành chính xã.
C. - Những công tác cụ thể của ban Bảo trợ y tế dân lập xã:
1. Xây dựng trạm xá xã, nhà hộ sinh xã.
Có thể dựa vào dân một phần về vật liệu của nhân dân sẵn có như tre, nứa, lá, v.v… và nhân lực để làm. Phần nào không thể dựa vào nhân dân thì ngân sách xã sẽ chịu một phần. Nhưng nên chú ý trong tình hình hiện nay, ngân sách xã phải tập trung phát triển sản xuất nên còn eo hẹp.
2. Xây dựng tủ thuốc và túi thuốc xóm.
Vận động nhân dân tự góp tiền để xây dựng, nơi nào có điều kiện có thể dùng tiền quỹ của các đoàn thể để làm vốn. Cán bộ y tế xã có nhiệm vụ điều tra nhu cầu thuốc men của nhân dân cho sát và làm thế nào cung cấp thuốc men cho nhân dân với một giá vừa phải, luôn luôn bảo vệ cho được vốn đã góp và sử dụng nó cơ lợi cho dân.
Khi bán sẽ được tính thêm tiền phí tổn và giá thuốc theo tỷ lệ 2 đến 5% giá thuốc để chi phí vào phí tổn đi mua và gây dựng thêm quỹ lập y tế xã.
3. Xây dựng quỹ y tế dân lập xã.
a) – Quỹ dân lập y tế xã nhằm mục đích xây dựng và thiết bị cơ sở y tế ở xã, đồng thời trả thù lao cho cán bộ y tế và hộ sinh xã.
b) - Xây dựng quỹ dân lập y tế xã dựa trên mấy nguyên tắc sau đây:
- Phục vụ săn sóc cho cá nhân hay nhóm nào (tập đoàn, hợp tác xã, tổ đổi công…) thì dựa vào cá nhân hay nhóm đó mà xây dựng quỹ y tế dân lập xã.
- Mấy hình thức xây dựng quỹ y tế dân lập xã:
Tập trung các khoản tiền của nhân dân trả thù lao cho cán bộ y tế và nữ hộ sinh xã trong khi săn sóc bệnh nhân và đỡ đẻ.
Mỗi lần cán bộ y tế xã chăm sóc cho bệnh nhân (đi đến nhà bệnh nhân để thăm bệnh cho uống thuốc viên, thuốc nước, hoặc tiêm thuốc) được tính thù lao từ 100 đến 300 đồng (không kể tiền thuốc men).
Mỗi lần hộ sinh đỡ đẻ được tính thù lao từ 1.000đ đến 1.500đ (không kể tiền bông băng thuốc men).
Mức thù lao trên đây mới chỉ là mức khống chế để các Ty Y tế và Ủy ban Hành chính các tỉnh nghiên cứu quy định mức cho cụ thể và thích hợp với từng địa phương.
Tiền lời bán thuốc cũng tập trung lại để xây dựng quỹ.
c) - Ngoài những khoản tiền trên còn có một số nhân dân tự nguyện tham gia đóng góp thì được thu để xây dựng quỹ nhưng cần tránh bổ bán bắt buộc đối với những người chưa được hưởng thụ về y tế.
4. Hàng tháng phải báo cáo tình hình hoạt động cho Ủy ban Hành chính xã.
5. Thủ quỹ của ban Bảo trợ y tế xã làm nhiệm vụ thu giữ và chi tiêu các khoản nói ở tiết a điểm 3 khoản C mục II.
Thủ quỹ phải có sổ sách rõ ràng, hàng tháng phải báo cáo công khai và có sự xét duyệt của Ủy ban Hành chính xã về thu chi đồng thời cùng với ban Bảo trợ y tế xã nghiên cứu cách xây dựng quỹ để giúp đỡ cán bộ y tế và hộ sinh xã hoạt động được liên tục.
Khi đã có quỹ y tế dân lập xã và có thủ quỹ thì thù lao của cán bộ y tế xã và hộ sinh xã sẽ do quỹ ấy đài thọ, những cán bộ y tế và hộ sinh xã không được trực tiếp nhận một khoản thù lao nào của bệnh nhân và sản phụ.
II. - SỐ LƯỢNG CÁN BỘ HƯỞNG THÙ LAO VÀ MỨC THÙ LAO
1. Mỗi xã chỉ nên trả thù lao từ một đến ba người (một hoặc hai cán bộ y tế và một hộ sinh xã).
2. Mức thù lao hàng tháng cho cán bộ y tế xã và nữ hộ sinh xã tương đương bằng mức thù lao chung của cán bộ xã, nhưng nếu thấy cán bộ y tế xã hoặc nữ hộ xã sinh có tinh thần phục vụ tốt và phải làm việc nhiều, không có thì giờ rảnh để sản xuất thì Ủy ban Hành chính xã xét và có thể đề nghị Ủy ban Hành chính tỉnh cho nâng mức thù lao (tùy theo khả năng của quỹ) cho cán bộ y tế và hộ sinh xã.
IV. - ĐIỀU KIỆN NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA CÁN BỘ Y TẾ VÀ HỘ SINH DÂN LẬP XÃ
1. Được công nhận cán bộ y tế, hộ sinh dân lập xã là những anh chị em đã học qua các lớp chuyên môn và được Ty Y tế chứng nhận có đủ khả năng và sức khỏe đồng thời được chính quyền xã chứng nhận về hạnh kiểm tốt, có Điều kiện hoạt động và phải được Ủy ban Hành chính tỉnh phê chuẩn.
Những cán bộ y tế và hộ sinh xã, sau một thời gian phục vụ, nếu tinh thần công tác và đạo đức sút kém thì có thể thay thế bằng cán bộ khác do nhân dân và Ủy ban Hành chính xã đề nghị được sự đồng ý của Ty Y tế và Ủy ban Hành chính tỉnh chuẩn y.
2. Cán bộ y tế, hộ sinh dân lập xã chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Hành chính xã và sự kiểm tra của các cấp chính quyền và cơ quan y tế cấp trên.
3. Cán bộ y tế xã có nhiệm vụ đảm bảo vệ sinh phòng bệnh và chữa một số bệnh thông thường cho nhân dân trong xã (theo sự hướng dẫn của Ty Y tế).
4. Nữ hộ sinh xã làm nhiệm vụ thăm thai, đỡ đẻ thường, hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh cho phụ nữ, sản phụ và hài nhi trong xã; ngoài ra giúp cán bộ y tế về công tác vệ sinh phòng bệnh chung cho xã (theo sự hướng dẫn của Ty Y tế).
5. Cán bộ y tế và hộ sinh dân lập xã được hưởng thù lao do quỹ dân lập đài thọ và được hưởng mọi quyền lợi như các cán bộ khác ở xã nói chung.
Điều 5 của Thông tư số 12-BYT/TT ngày 27/3/1958 về quyền lợi cán bộ y tế và hộ sinh xã trái với tinh thần thông tư này đều bãi bỏ.
Yêu cầu Ủy ban Hành chính các liên khu và Ủy ban Hành chính các tỉnh trực thuộc trung ương đôn đốc cho các Ty Y tế và các phòng Y tế các huyện thi hành đúng thông tư này của Bộ.
| BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ |
Thông tư 414-YT-TT năm 1958 về việc xây dựng y tế dân lập xã do Bộ Y tế ban hành
- Số hiệu: 414-YT-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 02/05/1958
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: Hoàng Tích Trí
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 17
- Ngày hiệu lực: 17/05/1958
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
