Thông tư 35-TT/LB được ban hành năm 1959 bởi Liên Bộ Lao động và Bộ Nội vụ, quy định chi tiết về chế độ trợ cấp mất sữa nhằm hỗ trợ đời sống, bảo vệ sức khỏe cho nữ công nhân, viên chức nhà nước và trẻ sơ sinh trong giai đoạn đầu đời.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của chế độ trợ cấp
- Đối tượng áp dụng: Nữ công nhân, viên chức, cán bộ, người lao động đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, xí nghiệp, công trường, lâm trường.
- Điều kiện áp dụng: Nữ công nhân viên chức sinh con nhưng gặp tình trạng mất sữa hoàn toàn, thiếu sữa không đủ nuôi con, hoặc bị mắc các bệnh lý mà theo chỉ định của y tế là không được cho con bú để bảo đảm an toàn cho trẻ.
Điều kiện và tiêu chuẩn xác định tình trạng mất sữa
- Tình trạng mất sữa hoặc thiếu sữa của người mẹ phải được cơ quan y tế có thẩm quyền (bệnh viện, bệnh xá cơ quan, hoặc trạm y tế xã, phường) khám và cấp giấy chứng nhận chính thức.
- Trường hợp người mẹ bị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc các bệnh lý khác có khả năng lây truyền qua đường sữa mẹ cũng được xem xét hưởng chế độ trợ cấp này để mua sữa ngoài thay thế.
Mức trợ cấp và phương thức chi trả
- Mức trợ cấp mất sữa được tính toán dựa trên nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu của trẻ sơ sinh và điều kiện kinh tế - xã hội thời kỳ đó, nhằm bảo đảm nguồn sữa thay thế cho trẻ dưới 1 tuổi.
- Khoản trợ cấp có thể được cấp phát bằng tiền mặt hoặc quy đổi ra hiện vật (như sữa bột, sữa đặc, đường) tùy thuộc vào điều kiện cung ứng của từng cơ quan, xí nghiệp và địa phương.
- Thời gian hưởng trợ cấp được tính từ khi có xác nhận của y tế cho đến khi trẻ đủ tuổi cai sữa hoặc theo thời hạn tối đa được quy định cụ thể trong hướng dẫn thi hành.
Thủ tục, hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ
- Hồ sơ đề nghị bao gồm: Đơn xin hưởng trợ cấp mất sữa của người mẹ; Giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh của con; Giấy xác nhận tình trạng mất sữa hoặc bệnh lý của người mẹ do cơ quan y tế cấp.
- Quy trình xét duyệt: Người lao động nộp hồ sơ cho bộ phận hành chính - nhân sự hoặc Công đoàn cơ sở của đơn vị. Thủ trưởng cơ quan, giám đốc xí nghiệp phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn để duyệt và thực hiện chi trả.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện và giám sát
- Liên Bộ Lao động và Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện đồng bộ chế độ trợ cấp này.
- Công đoàn các cấp có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ tại các cơ quan, xí nghiệp, bảo đảm quyền lợi được giải quyết kịp thời, đúng đối tượng và đúng chế độ.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 35-TT/LB năm 1959 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Chế độ trợ cấp mất sữa là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với lao động nữ và trẻ em trong giai đoạn xây dựng đất nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG-BỘ NỘI VỤ | VIỆT |
| Số: 35-TT/LB | Hà Nội, ngày 18 tháng 07 năm 1959 |
| Kính gửi: | - Các Bộ, các cơ quan, đoàn thể trung ương |
Chế độ trợ cấp mất sữa đã được Liên Bộ Nội vụ, Tài chính, Lao động ban hành tại Thông tư số 01-LB/CB ngày 13-5-1954 và được bổ sung trong Công văn số 16-PC ngày 18-3-1957 của Bộ Nội vụ, nhưng trong quá trình thi hành đã có những bất hợp lý cần được giải quyết.
Để mở rộng phạm vi thi hành và thống nhất chế độ trợ cấp mất sữa, tách khoản trợ cấp này khỏi khoản trợ cấp con, nay Liên Bộ Nội vụ, Lao động quy định lại chế độ trợ cấp mất sữa như sau:
1. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC TRỢ CẤP
- Sau khi sinh đẻ bị mất sữa: khi đẻ bị mất sữa ngay, hoặc đẻ một thời gian mới bị mất sữa, được Y, Bác sĩ chứng nhận.
- Bị bệnh truyền nhiễm, được Y, Bác sĩ chứng nhận không để cho con bú được.
- Nữ cán bộ, công nhân, viên chức chết khi đứa con chưa được 12 tháng thì người nuôi đứa bé đó cũng được trợ cấp.
Trường hợp đẻ sinh đôi, sinh ba dù người mẹ có sữa cho con bú, cũng được trợ cấp mất sữa, từ đứa thứ hai trở đi (nếu mất sữa thì được trợ cấp từ đứa thứ nhất).
- Mức trợ cấp quy định cho mỗi cháu là 10 đồng (mười đồng) một tháng, không phân biệt con phải bảo lưu, con được trợ cấp hay không được trợ cấp. Nếu cháu nào đang được hưởng trợ cấp 5 đồng (năm đồng) hoặc phải bảo lưu vẫn được lĩnh đủ 10 đồng (mười đồng).
Cơ quan, xí nghiệp hoặc đơn vị sử dụng người nữ cán bộ, công nhân, viên chức chịu trách nhiệm thanh toán khoản trợ cấp này.
a) Những trường hợp đã nói trên được trợ cấp kể từ ngày Y, Bác sĩ cấp giấy chứng nhận mất sữa, hoặc từ khi người mẹ chết cho đến khi đứa bé đủ 12 tháng.
b) Trường hợp người mẹ trước bị mất sữa, nay có sữa trợ lại, dù đứa bé chưa đủ 12 tháng, thì trợ cấp mất sữa cũng sẽ thôi không cấp nữa.
c) Ngày được Y, Bác sĩ chứng nhận từ 1 đến 15 trong tháng thì được tính cả tháng trợ cấp.
Nếu trong khoảng từ ngày 16 đến cuối tháng thì được tính nửa tháng trợ cấp 5 đồng (năm đồng) cho mỗi cháu.
d) Đối với trường hợp người mẹ chết không kể ngày nào trong tháng cũng được tính cả tháng trợ cấp là 10 đồng (mười đồng).
Chế độ trợ cấp mất sữa áp dụng cho tất cả nữ cán bộ, công nhân, viên chức trong biên chế chính thức ở các cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh xí nghiệp và công, nông, lâm trường (nữ công nhân ở công trường tức là lực lượng cố định nói tại Thông tư số 012 ngày 12-5-1958 của Bộ Lao động cũng được hưởng chế độ trợ cấp mất sữa).
Đối với nữ công nhân, viên chức lưu dụng thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp đã được sắp xếp vào các thang lương cũng được hưởng chế độ này: nhưng những chị em nào chưa sắp xếp mà lương thấp và có khó khăn thì cũng được xét cấp.
Thông tư này thi hành kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với thông tư này đều bãi bỏ.
Riêng đối với những trường hợp mắc mứu thuộc diện đã hưởng phụ cấp mất sữa theo Thông tư số 01-LB/CB ngày 13-5-1954 và công văn bổ sung số 16-PC ngày 19-3-1957 vì lý do cơ quan đình chỉ trợ cấp sau ngày ban hành lương mới, sẽ được giải quyết theo mức 10 đồng (mười đồng) trong khoảng thời gian có quyền lợi được hưởng. Nếu nữ cán bộ, công nhân, viên chức, đã hưởng phụ cấp mất sữa quá mức 10đ thì không phải truy hoàn và người nào đã lĩnh dưới mức 10đ sẽ được lĩnh cho đủ 10đ.
Ví dụ như sau:
Chị A lương cũ 36đ có 1 cháu được hưởng phụ cấp mất sữa 35 cân trong đó kể cả phụ cấp con 30 cân. Sau khi sắp xếp lương mới khoản 30 cân cộng vào thu nhập cũ.
| Thu nhập cũ: - Lương bản thân 36đ - Phụ cấp con 12đ
| Thu nhập mới: - Lương bản thân 45đ (không có phụ cấp con). Trường hợp này phải bảo lưu |
Từ tháng 7-1958 đến tháng 1-1959 cháu bé đang trong thời gian được hưởng phụ cấp mất sữa chị A được cơ quan cấp cho mỗi tháng 5 cân (2đ) phụ cấp mất sữa.
Nay sẽ được trả thêm mỗi tháng 8đ (tám đồng) tính thành tiền: 8đ x 7 tháng = 56đ (năm mươi sáu đồng).
Trong khi thi hành nếu gặp khó khăn mắc mứu gì đề nghị các ngành các cấp phản ảnh cho Liên Bộ góp ý kiến giải quyết.
| K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ | BỘ TRƯỞNG |
Thông tư 35-TT/LB năm 1959 quy định chế độ trợ cấp mất sữa do Bộ Lao Động- Bộ Nội Vụ ban hành.
- Số hiệu: 35-TT/LB
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 18/07/1959
- Nơi ban hành: Bộ Lao động, Bộ Nội vụ
- Người ký: Nguyễn Văn Tạo, Tô Quang Đẩu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 28
- Ngày hiệu lực: 02/08/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
