Thông tư 1642-P/4 được Bộ Tư pháp ban hành năm 1946 quy định về việc xử phạt hành vi lưu hành giấy bạc giả, nhằm bảo vệ hệ thống tài chính - tiền tệ non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn đầu sau Cách mạng Tháng Tám.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với mọi cá nhân, tổ chức thực hiện các hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành hoặc tiếp tay cho việc phát tán các loại giấy bạc giả trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo các quy định pháp luật hiện hành nhằm bảo đảm trật tự an toàn xã hội và uy tín của đồng tiền quốc gia.
Các nội dung cốt lõi của Thông tư
- Bảo vệ nền tài chính và tiền tệ quốc gia: Thông tư nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn giá trị và lòng tin của nhân dân đối với đồng giấy bạc do chính phủ hợp pháp phát hành. Việc ngăn chặn tiền giả là nhiệm vụ cấp bách để chống lại các âm mưu phá hoại kinh tế của các thế lực thù địch trong tình hình đất nước thới bấy giờ.
- Xác định các hành vi vi phạm pháp luật: Văn bản quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm việc cố ý tàng trữ, vận chuyển, mua bán, trao đổi hoặc tìm cách đưa giấy bạc giả vào lưu thông trong nền kinh tế. Đồng thời, các hành vi che giấu, không tố giác tội phạm tiền giả cũng bị xem là vi phạm pháp luật.
- Chế tài xử phạt và biện pháp răn đe: Các đối tượng có hành vi sản xuất, tàng trữ và lưu hành giấy bạc giả sẽ bị truy tố trước pháp luật. Tùy theo mức độ nghiêm trọng, quy mô và tính chất của vụ việc, người vi phạm có thể đối mặt với các hình phạt nghiêm khắc bao gồm phạt tù, tịch thu tài sản hoặc các biện pháp chế tài tài chính khác.
- Thẩm quyền và thủ tục xử lý vi phạm: Quy định rõ vai trò của các cơ quan tư pháp, tòa án và lực lượng chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xét xử các vụ án liên quan đến tiền giả. Quá trình xử lý phải đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời và nghiêm minh để răn đe các đối tượng khác.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 1642-P/4 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1946. Các cơ quan tư pháp, tòa án và các cấp chính quyền địa phương có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn và nghiêm túc thực hiện các quy định tại Thông tư này nhằm bảo vệ nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn kháng chiến kiến quốc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 1642-P/4 | Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 1946 |
THÔNG TƯ
Bộ trưởng Bộ Tư pháp gửi các ông Chưởng Lý tòa thượng thẩm Hà Nội, Huế, Sài Gòn
Điều thứ nhất sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946 đã nói rõ tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với mọi người. Như vậy các việc thương chính, kiểm lâm, hỏa xa, vân vân, phát sinh ra ở địa hạt nào thì tòa án nơi phát sinh ra việc phạm pháp ấy có thẩm quyền chứ không cần phải gửi hồ sơ về các tòa “tây án” như xưa nữa.
Về việc giấy bạc giả, ở Bắc Bộ các tòa đệ nhị cấp có thể thi hành điều 150 đoạn thứ 1 “Hình luật Bắc kỳ” mà sử, chứ không có lý gì cứ gửi về Hà Nội cả. Vả lại điều thứ nhất sắc lệnh số 46 ngày 5 tháng 4 năm 1946 đã nói các giấy bạc phát hành sau ngày 6 tháng 3 năm 1946 không được lưu hành nếu không được Chính phủ thừa nhận (V.N.C.B.) 1946 – trang 218): như vậy các giấy bạc phát hành trước ngày 6 tháng 3 năm 1946 được lưu hành, ai làm giả thì sẽ bị khép vào điều 150 hình luật Bắc Bộ hay 251 hình luật Trung Bộ.
| THỪA LỆNH BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP |
Thông tư 1642-P/4 năm 1946 về việc xử phạt lưu hành giấy bạc giả do Bộ Tư Pháp ban hành.
- Số hiệu: 1642-P/4
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 28/05/1946
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Văn Hưởng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 38
- Ngày hiệu lực: 12/09/1946
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
