Thông tư 13-NN/BVTV/TT-1970 do Bộ Nông nghiệp ban hành quy định về chế độ phí kiểm dịch thực vật. Đây là văn bản pháp lý đặt nền móng cho việc thiết lập cơ chế tài chính trong hoạt động kiểm dịch thực vật, nhằm bảo vệ sản xuất nông nghiệp, ngăn ngừa sự lây lan của dịch hại và phục vụ công tác quản lý xuất nhập khẩu nông, lâm sản trong giai đoạn bấy giờ.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh: Thông tư quy định về việc thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí liên quan đến công tác kiểm dịch thực vật đối với các loại hàng hóa, vật thể thuộc diện kiểm dịch khi tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc vận chuyển nội địa.
- Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu hoặc vận chuyển các sản phẩm có nguồn gốc thực vật thuộc danh mục phải kiểm dịch theo quy định của Bộ Nông nghiệp.
Các nội dung cốt lõi về phí kiểm dịch thực vật
- Căn cứ tính phí kiểm dịch: Khoản phí kiểm dịch thực vật được xác định cụ thể dựa trên chủng loại hàng hóa, số lượng, khối lượng hoặc tính chất phức tạp của quy trình kiểm dịch đối với từng loại thực vật, sản phẩm thực vật cụ thể.
- Trách nhiệm nộp phí của chủ hàng: Các tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc vận chuyển hàng hóa thuộc diện kiểm dịch có nghĩa vụ khai báo trung thực, tạo điều kiện cho cơ quan chuyên môn kiểm tra và phải nộp đầy đủ các khoản phí, lệ phí kiểm dịch theo quy định trước khi được cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật.
- Quản lý và sử dụng nguồn thu từ phí: Cơ quan thực hiện công tác kiểm dịch thực vật có trách nhiệm thu phí, mở sổ sách kế toán theo dõi chặt chẽ nguồn thu. Nguồn tiền thu được từ phí kiểm dịch thực vật phải được quản lý và sử dụng đúng mục đích theo chế độ tài chính của Nhà nước, ưu tiên phục vụ cho công tác chuyên môn, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật và hóa chất phục vụ kiểm dịch.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 13-NN/BVTV/TT-1970 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Nông nghiệp hoặc các cơ quan địa phương về phí kiểm dịch thực vật trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các cơ quan kiểm dịch thực vật trung ương và địa phương có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định tại Thông tư này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NÔNG NGHIỆP | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 13-NN/BVTV/TT | Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 1970 |
Căn cứ Nghị định số 1045-TTg ngày 13-9-1956 của Thủ tướng Chính phủ và Điều lệ tạm thời về kiểm dịch các loại hàng thảo mộc, ngũ cốc, súc sản, hải sản xuất nhập khẩu do Bộ Thương nghiệp ban hành ngày 26-9-1956.
Căn cứ Nghị định số 262-TTg ngày 09-7-1959 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao công tác kiểm dịch thực vật, động vật và các sản phẩm động vật xuất nhập khẩu từ Bộ Ngoại thương sang Bộ Nông lâm.
Nay Bộ Nông nghiệp quy định phí kiểm dịch thực vật như sau:
a) Công lập hồ sơ
Gồm công một lần vào sổ, cấp giấy tờ kiểm dịch cho một lô hàng. Trường hợp phải lập lại quá nửa số hồ sơ đó vì những lý do khác, không phải do cơ quan kiểm dịch thực vật gây nên, thì coi như thêm một lần lập hồ sơ. Mỗi lần lập hồ sơ cho một lô hàng được tính một đơn vị công kiểm dịch.
b) Công khám xét, lấy mẫu
Mỗi lần xem xét giấy tờ và kiểm tra bên ngoài lô hàng được tính một đơn vị công kiểm dịch. Nếu có lấy mẫu thì một đến 10 mẫu đều tính một đơn vị công kiểm dịch, trên 10 mẫu thì cứ trong khoảng 1 đến 10 mẫu được tính thêm một đơn vị công kiểm dịch. Số lượng mẫu của mỗi lô hàng tính theo thao tác kiểm tra lấy mẫu do Cục bảo vệ và kiểm dịch thực vật quy định. Đối với những lô hàng để rời thì tính phí kiểm dịch thực vật theo số mẫu tương đương với số mẫu khi lô hàng đó đóng bao, đóng kiện.
Đối với phương tiện vận tải tính theo dung tích nơi được giám định, từ 1 đến 30cm3 đều tính một đơn vị công kiểm dịch, trên 30cm3 thì cứ trong khoảng 1 đến 30cm3 được tính thêm một đơn vị công kiểm dịch.
Trường hợp phải làm lại quá nửa số công việc của một đơn vị công kiểm dịch vì những lý do khác không phải do cơ quan kiểm dịch thực vật gây nên thì được tính thêm một đơn vị công kiểm dịch.
c) Công phân tích, giám định
Nếu yêu cầu xác định chung tình trạng kiểm dịch thực vật của lô hàng thì mỗi lần phân tích giám định cho một lô hàng được tính 4 đơn vị công kiểm dịch. Nếu yêu cầu xác định riêng tình trạng côn trùng, hoặc nấm bệnh, hoặc tuyến trùng v.v… của lô hàng thì mỗi lần phân tích, giám định cho một lô hàng cứ mỗi yêu cầu được tính 2 đơn vị công kiểm dịch. Nếu phải làm lại quá nửa số công việc phân tích, giám định cho một lô hàng vì những lý do khác, không phải do cơ quan kiểm dịch thực vật gây nên, thì coi như thêm một lần phân tích, giám định.
Cũng những yêu cầu như trên nhưng nếu phải phân tích giám định phức tạp như phải giải phẫu tỷ mỷ, gây cấy trên môi trường, gây bệnh nhân tạo, hoặc phải dùng vật tư đắt tiền, máy móc tinh vi và trình độ tay nghề cao v.v… thì số đơn vị công kiểm dịch được tính gấp đôi,
d) Mỗi đơn vị công kiểm dịch thực hiện trong giờ hành chính được thu nạp 1,00 đồng (một đồng), ngoài giờ hành chính 1,25 đồng (một đồng hai hào năm xu), trong ngày lễ, chủ nhật, ca ba 1,50 đồng (một đồng năm nào).
| K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP |
- 1Nghị định 262-TTg năm 1959 về việc chuyển giao công tác kiểm dịch thực vật, động vật và các sản phẩm động vật xuất nhập khẩu từ Bộ Ngoại thương sang Bộ Nông lâm do Thủ Tướng ban hành
- 2Nghị định 1045-TTg năm 1956 về ấn định việc kiểm nghiệm hay kiểm dịch những hàng hóa xuất nhập khẩu của quốc doanh cũng như tư doanh do Thủ Tướng ban hành.
Thông tư 13-NN/BVTV/TT-1970 quy định phí kiểm dịch thực vật do Bộ Nông Nghiệp ban hành
- Số hiệu: 13-NN/BVTV/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 07/12/1970
- Nơi ban hành: Bộ Nông nghiệp
- Người ký: Chu Văn Biên
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 20
- Ngày hiệu lực: 01/01/1971
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
