Thông tư 01-TT/TKV được Bộ Giao thông và Bưu điện ban hành năm 1958 nhằm giải thích và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 403-NĐ/LB về việc sửa đổi chế độ miễn bưu phí đối với thư từ của quân nhân và thương binh. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi thông tin liên lạc của lực lượng vũ trang và các thương bệnh binh trong thời kỳ xây dựng đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của văn bản:
Văn bản áp dụng đối với tất cả các quân nhân đang tại ngũ, thương binh đang điều trị, điều dưỡng tại các cơ sở y tế, an dưỡng đường, cùng các cơ quan bưu điện và đơn vị quân đội có liên quan trên toàn quốc. Phạm vi điều chỉnh tập trung vào việc quản lý, thực hiện chế độ miễn cước phí bưu chính đối với thư thường gửi và nhận của các đối tượng ưu tiên.
- Mục đích giải thích và hướng dẫn Nghị định số 403-NĐ/LB
- Thống nhất cách hiểu và phương thức áp dụng các quy định mới về miễn bưu phí trong toàn ngành bưu điện và quân đội.
- Khắc phục những hạn chế, thiếu sót hoặc hiện tượng lạm dụng chế độ gửi thư miễn phí không đúng đối tượng, không đúng quy chuẩn trong giai đoạn trước đó.
- Nội dung sửa đổi chế độ miễn bưu phí cho quân nhân và thương binh
- Xác định cụ thể các tiêu chuẩn về loại thư, kích thước và trọng lượng thư được phép miễn bưu phí khi lưu thông qua mạng lưới bưu điện quốc gia.
- Quy định chi tiết về thủ tục xác nhận trên phong bì thư, bao gồm việc sử dụng các loại tem đặc biệt, ký hiệu riêng hoặc dấu xác nhận của đơn vị quân đội, bệnh viện, an dưỡng đường nơi thương binh đang điều trị.
- Phân biệt rõ ràng giữa thư cá nhân của quân nhân, thương binh (được hưởng chế độ miễn phí theo quy định) và thư công vụ của các cơ quan, đơn vị quân đội (áp dụng theo chế độ bưu phí công vụ riêng).
- Trách nhiệm thi hành của các cơ quan, đơn vị
- Các đơn vị quân đội, ban quản lý các trại thương binh có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc gửi thư của quân nhân, thương binh thuộc quyền quản lý, bảo đảm đúng đối tượng và đúng quy định pháp luật.
- Ngành bưu điện có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn nghiệp vụ cho toàn thể nhân viên bưu cục, bảo đảm việc tiếp nhận, chuyển phát thư miễn phí được thực hiện nhanh chóng, an toàn và không gây phiền hà cho người gửi.
Thông tư 01-TT/TKV năm 1958 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành, hướng dẫn chi tiết cho việc thực hiện thống nhất các quy định ưu đãi bưu chính của Nhà nước đối với lực lượng quân đội và thương binh.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ GIAO THÔNG VÀ BƯU ĐIỆN | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 01-TT/TKV | Hà Nội, ngày 03 tháng 01 năm 1958 |
Ngày 24-12-1957, Liên bộ Giao thông và Bưu điện, Quốc phòng, Thương binh và Tài chính, sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn, đã ban hành Nghị định số 403-NĐ/LB sửa đổi chế độ miễn bưu phí thư quân nhân và thương binh.
Bộ Giao thông và Bưu điện ra thông tư này để các Cơ quan đoàn thể, xí nghiệp căn cứ giải thích cho nhân dân và cán bộ công nhân viên.
I. - TẠI SAO SỬA ĐỔI CHẾ ĐỘ MIỄN BƯU PHÍ THƯ QUÂN NHÂN VÀ THƯ THƯƠNG BINH
Chế độ miễn bưu phí thư quân nhân và thương binh ban hành trong thời kỳ kháng chiến và đựơc tiếp tục áp dụng trong những năm sau hoà bình cho đến nay là xuất phát từ chính sách ưu đãi quân nhân, ưu đãi thương binh.
Chế độ miễn bưu phí thi hành đã đáp ứng được yêu cầu thông tin để trao đổi tình cảm của anh em, nhất là trong thời kỳ kháng chiến. Do đó chế độ miễn bưu phí đã có tác dụng tốt ảnh hưởng tốt.
Hoà bình lập lại số thư miễn bưu phí tăng lên quá nhanh và quá nhiều. Trong số thư Bưu điện nhận chuyển, phát thì 1/3 là thư có tem, còn 2/3 là thư miễn bưu phí.
Sự tăng lên có nhiều lý do: có người gửi bừa bãi (như gửi một lúc trên 10 bức thư miễn bưu phí, có người vừa gửi vừa nhận một tháng 80 thư miễn bưu phí, có người gửi cho những địa chỉ mà không có người nhận làm cho Bưu điện tốn công vô ích) thậm chí có người không phải là quân nhân hay thương binh gửi thư cho những người không phải là quân nhân hay thương binh cũng lạm dụng chế độ miễn bưu phí để gửi thư trốn cước. Hơn nữa, sau 3 năm hòa bình khôi phục kinh tế, và nông thôn thì cải cách ruộng đất đã xong, nói chung nhân dân mọi người đều có cơ sở sản xuất hoặc công việc làm ở cơ quan, xí nghiệp. Thân thuộc, bè bạn quân nhân và thương binh cũng vậy. Cho nên việc gửi thư cho bộ đội và thương binh cần phải theo thể lệ chung của Nhà nước, không thể sử dụng mãi chế độ miễn bưu phí cho bộ đội như trước nữa. Trong khi đó xí nghiệp Bưu điện thu không đủ chi, đã không làm tròn được nhiệm vụ hạch toán kinh tế, lấy thu để chi, tiến đến có lãi tích luỹ vốn cho Nhà nước mà hàng năm Nhà nước phải phụ cấp thêm cho Bưu điện hàng 500 triệu đồng. Đó là một điều bất hợp lý.
Nguyên nhân vi phạm vi miễn bưu phí quá rộng, lại thiếu sự lãnh đạo trong việc gửi thư của quân nhân và thương binh cho được hợp lý, có mức độ và thiếu sự kiểm tra chặt chẽ để ngăn ngừa sự lạm dụng.
Nếu cứ để tình trạng trên chẳng những lãng phí ngân sách Nhà nước, xí nghiệp Bưu điện khó thực hiện chế độ hạch toán kinh tế mà còn đối với quân nhân và thương binh nói chung cũng không phải là lợi ích thiết thực.
Dựa trên tinh thần chính sách ưu đãi quân nhân và thương binh và duy trì chính sách miễn bưu phí thư quân nhân, thư thương binh, căn cứ nhiệm vụ phục vụ và nhiệm vụ quản lý kinh doanh của xí nghiệp Bưu điện và xuất phát từ nhận định trên, Liên Bộ Giao thông và Bưu điện, Quốc phòng, Thương binh và Tài chính, sau khi được sự chuẩn y của Thủ tướng Chính phủ, ban hành Nghị định số 403-NĐ/LB ngày 24-12-1957 sửa đổi chế độ miễn bưu phí thư quân nhân và thương binh để một mặt ưu đãi thích đáng quân nhân và thương binh, một mặt khác giúp đỡ xí nghiệp quốc doanh Bưu điện làm tròn nhiệm vụ đồng thời tránh lãng phí cho ngân sách Nhà nước.
II. NỘI DUNG CHẾ ĐỘ MIỄN BƯU PHÍ ĐƯỢC SỬA ĐỔI
Theo Nghị định số 403-NĐ/LB ngày 24-12-1957 và theo sự quy định cách thức thực hiện của 4 Bộ, chế độ miễn bưu phí thư quân nhân và thư thương binh sửa đổi như sau:
“Quân nhân tại ngũ, thương binh tại trại, thương binh công tác ở các cơ quan, công trường, xí nghiệp, trường học, thương binh về địa phương sản xuất tự túc mỗi người mỗi tháng được gửi 2 thư miễn bưu phí ”.
Thư miễn bưu phí không được nặng quá 20 gam. Nếu thư nặng quá 20 gam người gửi phải trả cước và dán tem theo thể lệ chung của Bưu điện.
Thư miễn bưu phí của quân nhân phải có dấu “Thư Binh sĩ” của quân đội đóng lên phong bì.
Dấu này do Bộ Quốc phòng cấp phát (mẫu thống nhất ) cho các cơ quan và đơn vị quân đội.
Thư miễn bưu phí của thương binh phải có dán tem “Thư Thương binh” Tem “Thư Thương binh” do Tổng cục Bưu điện phát hành và phân phối cho các Sở, Ty Bưu điện để cung cấp cho các Ty Thương binh (hoặc cho Ty Tài chính nếu ở tỉnh đó việc phát phụ cấp thương tật do Ty Tài chính đảm nhiệm) và cung cấp cho các cơ quan, công trường, xí nghiệp, trường học có thương binh để các cơ quan ấy phát cho thương binh theo kỳ phát phụ cấp thương tật.
Việc sửa đổi chế độ miễn bưu phí như trên áp dung chung cho tất cả thư gửi đi cũng như là thư nhận của quân nhân và thương binh.
Chế độ miễn bưu phí sửa đổi như trên bắt đầu thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 1958. Riêng đối với thư thương binh, trong khi Tổng cục Bưu điện chưa kịp phát hành loại tem “Thư Thương binh” thì vẫn gửi theo lối cũ (Uỷ ban Hành chính địa phương, cơ quan đóng dấu lên phong bì chứng thực) và vẫn được coi là hợp lệ cho đến khi Tổng cục Bưu điện phát hành xong loại tem “Thư Thương binh”.
Tất cả các văn bản đã ban hành về chế độ miễn bưu phí quân nhân và thư thương binh trái với Nghị định 403-NĐ/LB ngày 24-12-1957 đều bãi bỏ.
Việc miễn bưu phí thư quân nhân và thư thương binh quy định như trên là xuất phát từ chính sách ưu đãi thương binh, không nên coi đó là chế độ cung cấp mà cần nhận rõ ý nghĩa chính trị của chính sách ấy.
Chế độ miễn bưu phí được sửa đổi như vậy la hợp tình hợp lý, vì nó vừa thích hợp với yêu cầu cần thiết về thông tin và trao đổi tình cảm của quân nhân, thương binh vừa thấu triệt tinh thần tiết kiệm, giúp cho Bưu điện có điều kiện làm trọn nhiệm vụ phục vụ được tốt nhu cầu thông tin của nhân dân và quân đội, mặt khác làm tròn nhiệm vụ xí nghiệp hạch toán kinh tế của chế độ dân chủ nhân dân, đồng thời bảo đảm được ngân sách Nhà nước.
Đề nghị các cơ quan, các đoàn thể và toàn thể nhân dân, công nhân và cán bộ ngành Giao thông và Bưu điện nhận rõ lợi ích chung, lý do và nội dung sửa đổi chế độ miễn bưu phí thư quân nhân và thương binh để tích cực thi hành và giúp trong việc tuyên truyền giải thích cho những người xung quanh mình hiểu rõ cùng nhau thi hành.
| K.T BỘ TRƯỞNG |
- 1Nghị định 16-NĐ năm 1956 Bãi bỏ việc miễn bưu phí tem thư cho bộ đội, cảnh vệ và thanh niên xung phong do Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện ban hành
- 2Thông tư 10-TT/LB năm 1958 về việc chế độ ưu đãi thương binh đi xe lửa do Bộ giao thông và Bưu điện - Bộ Thương binh ban hành
- 3Nghị định 18-NĐ/LB năm 1959 quy định thể lệ gửi Thư binh sĩ miễn bưu phí do Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện-Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
- 1Nghị định 16-NĐ năm 1956 Bãi bỏ việc miễn bưu phí tem thư cho bộ đội, cảnh vệ và thanh niên xung phong do Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện ban hành
- 2Thông tư 10-TT/LB năm 1958 về việc chế độ ưu đãi thương binh đi xe lửa do Bộ giao thông và Bưu điện - Bộ Thương binh ban hành
- 3Nghị định 18-NĐ/LB năm 1959 quy định thể lệ gửi Thư binh sĩ miễn bưu phí do Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện-Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
- 4Nghị định 403-NĐ-LB năm 1957 sửa đổi Nghị định 03-NĐ quy định chế độ miễn bưu phí thư quân nhân và thương binh do Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện-Bộ trưởng Bộ Thương binh-Bộ trưởng Bộ Tài chính-Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
Thông tư 01-TT/TKV năm 1958 giải thích Nghị định 403-NĐ/LB về sửa đổi chế độ miễn bưu phí thư quân nhân và thương binh do Bộ Giao Thông và Bưu Điện ban hành
- Số hiệu: 01-TT/TKV
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 03/01/1958
- Nơi ban hành: Bộ Giao thông và Bưu điện
- Người ký: Nguyễn Hữu Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 18/01/1958
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
