Tóm tắt Thông báo 225/TB-VPCP năm 2024 về bảo đảm vật liệu san lấp cho các dự án giao thông trọng điểm phía Nam
Thông báo 225/TB-VPCP truyền đạt ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại buổi làm việc với các Bộ, ngành và địa phương về giải quyết khó khăn, vướng mắc trong việc cung ứng vật liệu san lấp (đặc biệt là cát sông và cát biển) cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm tại khu vực phía Nam, trọng tâm là các tuyến đường bộ cao tốc vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ.
1. Đánh giá thực trạng cung ứng vật liệu san lấp hiện nay
Qua kết quả khảo sát thực tế, Phó Thủ tướng đánh giá cao sự nỗ lực của các Bộ, ngành và địa phương trong việc phối hợp điều phối nguồn vật liệu. Tuy nhiên, tiến độ cung ứng cát san lấp vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu thi công thực tế của các dự án trọng điểm. Một số vướng mắc chính được chỉ ra bao gồm:
- Thủ tục gia hạn, cấp phép khai thác mỏ cát sông theo cơ chế đặc thù tại một số địa phương còn chậm do e ngại trách nhiệm pháp lý và quy trình đánh giá tác động môi trường phức tạp.
- Sự phối hợp điều phối nguồn cát giữa các tỉnh có nguồn tài nguyên (như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long) và các tỉnh có dự án đi qua chưa thực sự đồng bộ, thông suốt.
- Việc triển khai thí điểm và áp dụng cát biển làm vật liệu đắp nền đường còn gặp nhiều khó khăn về tiêu chuẩn kỹ thuật và đánh giá tác động môi trường đối với vùng đất nông nghiệp xung quanh.
2. Các giải pháp trọng tâm bảo đảm nguồn cát sông
Để giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu hụt cát sông, Phó Thủ tướng yêu cầu thực hiện nghiêm túc các giải pháp sau:
- Áp dụng tối đa cơ chế đặc thù: Các địa phương có nguồn cát khẩn trương hoàn thành thủ tục giao mỏ, gia hạn giấy phép khai thác cho các nhà thầu thi công theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính rườm rà.
- Nâng công suất các mỏ đang khai thác: Cho phép nâng công suất khai thác các mỏ cát sông đang hoạt động lên tối đa 50% công suất ghi trong giấy phép (nếu bảo đảm an toàn bờ sông, không gây sạt lở) để ưu tiên cung cấp ngay cho các dự án cao tốc.
- Điều phối linh hoạt giữa các dự án: Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các địa phương rà soát, điều phối khối lượng cát từ các mỏ được cấp cho các dự án có tiến độ nhanh hơn, tránh tình trạng nơi thừa, nơi thiếu cục bộ.
3. Định hướng sử dụng cát biển làm vật liệu thay thế
Sử dụng cát biển được xác định là giải pháp căn cơ, lâu dài để giảm áp lực lên nguồn cát sông đang dần cạn kiệt:
- Mở rộng phạm vi thí điểm: Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường khẩn trương hoàn thiện quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật sử dụng cát biển làm vật liệu đắp nền đường cao tốc. Cho phép mở rộng phạm vi sử dụng cát biển tại các khu vực có điều kiện địa chất, thủy văn phù hợp.
- Đơn giản hóa thủ tục khai thác cát biển: Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn UBND tỉnh Sóc Trăng và các địa phương liên quan thực hiện thủ tục giao khu vực biển để khai thác cát biển phục vụ các dự án theo cơ chế đặc thù, bảo đảm nhanh chóng, đúng quy định pháp luật.
4. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành và địa phương
Phó Thủ tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị nhằm bảo đảm tính chịu trách nhiệm cao nhất:
- Bộ Giao thông vận tải: Chịu trách nhiệm tổng hợp nhu cầu, tiến độ sử dụng cát của từng dự án hàng tuần, hàng tháng để làm cơ sở điều phối; kiểm tra, giám sát chất lượng vật liệu đầu vào, bảo đảm an toàn kỹ thuật công trình.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thành lập tổ công tác liên ngành trực tiếp hỗ trợ các địa phương giải quyết các vướng mắc về thủ tục môi trường, cấp phép mỏ; hướng dẫn chi tiết việc đánh giá tác động môi trường khi khai thác cát sông, cát biển.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Chủ tịch UBND các tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm nguồn vật liệu san lấp trên địa bàn quản lý; chủ động phối hợp chặt chẽ với các tỉnh bạn để chia sẻ nguồn tài nguyên vì mục tiêu chung của quốc gia.
Tóm tắt này được thực hiện nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về các chỉ đạo của Chính phủ trong việc tháo gỡ nút thắt vật liệu san lấp cho hạ tầng giao thông phía Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 225/TB-VPCP | Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2024 |
KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TRẦN HỒNG HÀ VỀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT NẮM TÌNH HÌNH VÀ LÀM VIỆC VỚI CÁC BỘ, ĐỊA PHƯƠNG VỀ BẢO ĐẢM VẬT LIỆU SAN LẤP CHO DỰ ÁN GIAO THÔNG TRỌNG ĐIỂM KHU VỰC PHÍA NAM
Ngày 11 tháng 5 năm 2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà có chuyến công tác để khảo sát nắm tình hình tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long về tình hình triển khai các dự án và bảo đảm nguồn vật liệu cho các dự án giao thông trọng điểm khu vực phía Nam, đồng thời trực tiếp gặp gỡ, để lắng nghe phản ánh, trao đổi với các hộ dân thuộc khu vực dự kiến khai thác mỏ cát sông tại một số xã, thị trấn thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Buổi chiều ngày 11 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì buổi làm việc về vật liệu san lấp cho các dự án; tham dự buổi làm việc có Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thắng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh và lãnh đạo các Bộ, cơ quan: Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ, đại diện các Bộ: Xây dựng, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ; các đồng chí lãnh đạo tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và đại diện các Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, nhà thầu, đơn vị tư vấn... Sau khi nghe báo cáo của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường, ý kiến phát biểu của các đại biểu dự họp, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã kết luận như sau:
1. Việc đầu tư xây dựng các công trình giao thông trọng điểm có ý nghĩa hết sức trong quan trọng, tạo động lực lớn cho phát triển kinh tế- xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước, của vùng. Đối với việc đảm bảo nguồn cung vật liệu san lấp, Quốc hội, Chính phủ đã có các cơ chế, chính sách đặc thù; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên, liên tục. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện chậm, chưa đáp ứng tiến độ đề ra, có nơi còn thiếu sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp kịp thời của một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, chưa tạo được sự đồng thuận cao của người dân, còn tình trạng chậm giải quyết các thủ tục giao, cấp và khai thác mỏ vật liệu... Bên cạnh đó, chưa có kế hoạch phù hợp để xác định chính xác nhu cầu khối lượng vật liệu san lấp theo tiến độ yêu cầu của từng dự án phù hợp với công suất khai thác của các mỏ dẫn đến chưa bảo đảm đủ vật liệu san lấp, làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án.
2. Tài nguyên khoáng sản (các mỏ vật liệu) là của quốc gia, được phân cấp cho các địa phương trực tiếp quản lý, do vậy, Thành ủy, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong vùng phải xác định rõ trách nhiệm chính trị trong việc bảo đảm cung cấp vật liệu san lấp để hoàn thành đúng tiến độ các tuyến giao thông huyết mạch, quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy phát triển của vùng và kết nối liên vùng.
3. Việc hoàn thành đúng tiến độ và chất lượng để đưa vào sử dụng các tuyến giao thông kết nối liên vùng là nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ giao và là nguyện vọng của Nhân dân. Đảm bảo vật liệu san lấp là điều kiện tiên quyết để hoàn thành tiến độ của các dự án, yêu cầu các Bộ, ngành trong theo thẩm quyền và trách nhiệm được giao chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để tình trạng thiếu vật liệu ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Theo đó Phó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
a) Bộ Giao thông vận tải
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các địa phương: Lập phương án tổng thể nhu cầu về vật liệu san lấp cho các dự án theo tiến độ cụ thể; đánh giá kỹ lưỡng khả năng cung ứng của cát sông: (i) từ các mỏ hiện hữu đang khai thác, khả năng nâng công suất; (ii) từ mở các mỏ mới: (iii) từ việc tận dụng cát từ hoạt động nạo vét (lòng hồ, chỉnh trị, tạo dòng chảy lòng sông); trong đó phải tính đúng, tính đủ, đánh giá chính xác khả năng khai thác thực tế, không tính toán theo trữ lượng. Trên cơ sở đó, đề xuất việc mở rộng thí điểm sử dụng cát biển để bù đắp phần thiếu hụt từ cát sông với các giải pháp cụ thể gắn với trách nhiệm giải quyết của từng tập thể, cá nhân (ở trung ương, địa phương); hoàn thành trong tháng 5 năm 2024, báo cáo Thủ tướng Chính phủ;
- Hướng dẫn cụ thể, rõ ràng (phạm vi, điều kiện, các yêu cầu kỹ thuật, tổ chức thi công...) cho các địa phương, chủ đầu tư các dự án, nhà thầu thi công việc sử dụng cát biển làm vật liệu san lấp;
- Khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ về Nghị định thay thế Nghị định số 159/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa. Đồng thời hướng dẫn các địa phương triển khai hoạt động nạo vét lòng hồ, chỉnh trị, tạo dòng chảy lòng sông kết hợp tận thu cát để làm vật liệu san lấp.
b) Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và các cơ quan, đơn vị có liên quan hoàn thành thủ tục giao biển trước ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo đúng quy định của pháp luật để Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng thực hiện các thủ tục giao mỏ cho các nhà thầu khai thác làm vật liệu san lấp theo cơ chế đặc thù, bảo đảm hoạt động khai thác được thực hiện trong tháng 5 năm 2024;
- Chủ trì lập Báo cáo về cát san lấp và cát biển, trong đó báo cáo rõ: (i) Trữ lượng các mỏ có thể khai thác (đối với mỏ đang khai thác, việc nâng công suất, mỏ mở mới...); (ii) khả năng khai thác khả dụng của từng mỏ cho từng dự án; (iii) vướng mắc (nếu có) và trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong giải quyết vướng mắc, thời hạn giải quyết xong vướng mắc (theo nguyên tắc thủ tục ở cấp nào người đứng đầu ở cáp đó phải chịu trách nhiệm và phải chủ động giải quyết); trên cơ sở phương án tổng thể nhu cầu vật liệu san lấp cho các dự án giao thông khu vực phía Nam, chủ trì lập phương án và điều phối nguồn vật liệu cho từng dự án, đáp ứng tiến độ thi công, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5 năm 2024.
c) Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ triển khai Dự án đường Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh; khẩn trương phối hợp với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre và các địa phương có liên quan để giải quyết các thủ tục khai thác, giao mỏ cát làm vật liệu san lấp theo cơ chế đặc thù đã được cấp có thẩm quyền cho phép áp dụng đối với dự án này, hoàn thành trước ngày 15 tháng 6 năm 2024.
d) Chủ đầu tư, Ban quản lý các dự án, nhà thầu khẩn trương tính toán, đăng ký nhu cầu sử dụng cát biển với Bộ Giao thông vận tải (để tổng hợp theo điểm a nêu trên) và với Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng trước ngày 20 tháng 5 năm 2024; chịu trách nhiệm toàn diện trong quản lý hoạt động khai thác, bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra thất thoát tài nguyên khoáng sản hoặc sử dụng cát biển không đúng mục đích.
đ) Các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Giao thông vận tải, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ... hỗ trợ, hướng dẫn Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và các Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án và các đơn vị liên quan trong quá trình khai thác cát biển; chủ động giải quyết theo thẩm quyền đối với những vướng mắc trong quá trình thực hiện hoạt động khai thác cát biển theo quy định của pháp luật.
e) Ủy ban nhân dân các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau... khẩn trương thực hiện giao mỏ khoáng sản cho nhà thầu khai thác làm vật liệu xây dựng thông thường (cát sông) theo cơ chế đặc thù để phục vụ các công trình, dự án giao thông trọng điểm; thực hiện nâng công suất khai thác theo đúng quy định của pháp luật và các cơ chế đặc thù đã được cấp có thẩm quyền cho phép áp dụng, nhằm bảo đảm yêu cầu cung cấp cát san lấp cho các dự án, gắn với việc quan trắc để theo dõi tác động của hoạt động khai thác đến dòng chảy và sạt lở bờ sông.
g) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khu vực phía Nam
- Khẩn trương chuẩn bị phương án, thủ tục liên quan để có thể thực hiện ngay khi được cấp có thẩm quyền phân cấp giải quyết đối với hoạt động nạo vét luồng lạch bảo đảm giao thông đường thủy an toàn (bao gồm cả nạo vét, khai thác cồn cát, bãi bồi đang làm cản trở dòng chảy trên các sông, nằm ở vị trí không ảnh hưởng đến dân cư, công trình hạ tầng), đồng thời bổ sung nguồn vật liệu cho san lấp cho các dự án giao thông.
- Cung cấp thông tin đầy đủ, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kịp thời chăm lo cho người dân khu vực khai thác mỏ khoáng sản, đặc biệt là các gia đình chính sách; bảo đảm công khai, minh bạch và cùng Nhân dân giám sát thực hiện, không để hoạt động khai thác cát sông làm ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các bộ, cơ quan, đơn vị có liên quan biết, thực hiện./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM |
- 1Thông báo 202/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Chủ tịch Ủy ban, tại kỳ họp lần thứ nhất Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2Thông báo 208/TB-VPCP năm 2024 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp về dự thảo Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Nghị định quy định về giá đất do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Thông báo 218/TB-VPCP năm 2024 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp về việc triển khai xây dựng một số đề án của Chính phủ trình Quốc hội do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 4Thông báo 232/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà về xây dựng Nghị định quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 5Thông báo 239/TB-VPCP năm 2024 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà - Tổ trưởng Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo để chỉ đạo tiến độ triển khai các công trình, dự án đường sắt đô thị Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 6Thông báo 283/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại buổi làm việc với các Bộ, địa phương, cơ quan có liên quan về xử lý khó khăn, vướng mắc cho dự án giao thông trọng điểm khu vực phía Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1Nghị định 159/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa
- 2Thông báo 202/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Chủ tịch Ủy ban, tại kỳ họp lần thứ nhất Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Thông báo 208/TB-VPCP năm 2024 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp về dự thảo Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Nghị định quy định về giá đất do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 4Thông báo 218/TB-VPCP năm 2024 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp về việc triển khai xây dựng một số đề án của Chính phủ trình Quốc hội do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 5Thông báo 232/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà về xây dựng Nghị định quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo với khách hàng sử dụng điện lớn do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 6Thông báo 239/TB-VPCP năm 2024 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà - Tổ trưởng Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo để chỉ đạo tiến độ triển khai các công trình, dự án đường sắt đô thị Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 7Thông báo 283/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại buổi làm việc với các Bộ, địa phương, cơ quan có liên quan về xử lý khó khăn, vướng mắc cho dự án giao thông trọng điểm khu vực phía Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
Thông báo 225/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà về kết quả khảo sát năm tình hình và làm việc với các Bộ, địa phương về bảo đảm vật liệu san lấp cho dự án giao thông trọng điểm khu vực phía Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 225/TB-VPCP
- Loại văn bản: Thông báo
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Nơi ban hành: Văn phòng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Sỹ Hiệp
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/05/2024
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
